TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 255/2024/HSST
Ngày: 21-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Tỉnh
Bà Trần Thị Thanh Tâm
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 260/2024/TLST-HS ngày 04-11-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2024/QĐXXST-HS ngày 07-11-2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 27-11-1991; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Tổ I, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 09-6-2023, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 12 tháng (chấp hành xong ngày 21-5-2024); nhân thân: Ngày 13-7-2015, Công an phường C, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 20-12-2016, Công an phường V (nay là phường T), thành phố N xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ ngày 16-9-2024, chuyển tạm giam từ ngày 25-9-2024; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Đào Quang B, sinh ngày 03-12-1969; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Số C, ô A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Quang B1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Kim C (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 16-9-2010, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 17-04-2018, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 29-12-2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại phường thời hạn 03 tháng (chấp hành xong ngày 29-3-2022); bị tạm giữ ngày 16-9-2024, chuyển tạm giam từ ngày 25-9-2024; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: anh Uông Sĩ Q, anh Nguyễn Viết T2, anh Lư Tuấn M, ông Lưu Văn Đ1 (không triệu tập tham gia phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 05 phút ngày 16-9-2024, tổ công tác Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà A đường H, phường T, thành phố N phát hiện Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe máy biển kiểm soát 18F2-9714 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Đ nhả từ trong miệng 02 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (Đ khai là H mua của Đào Quang B với giá 200.000 đồng để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hữu Đ và tạm giữ của Đ 01 chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát 18F2 - 9714; 01 chiếc điện thoại di động iPhone, màu hồng trắng, đều đã cũ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu Đ khai: Khoảng tháng 8/2024, Đ quen và biết Đào Quang B bán ma túy. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16-9-2024, Đ dùng số thuê bao 0943243693 gọi đến số thuê bao 0842963299 của B hỏi mua 200.000 đồng Heroine. B đồng ý, hẹn giao dịch ở khu vực ngã ba đường T và đường T, phường N, thành phố N. Khoảng 09 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe máy đến điểm hẹn, đưa cho B 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng), B nhận tiền, đưa cho Đ 02 gói Heroine. Đ cho 02 gói Heroine vào miệng ngậm rồi điều khiển xe máy tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Khoảng 15 giờ 25 phút ngày 16-9-2024, tổ công tác Công an thành phố N phát hiện Đào Quang B tại khu vực ngã ba đường T và đường T, phường N, thành phố N, nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ trên tay trái của B 03 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong (ký hiệu M); trong túi quần phía trước bên phải B đang mặc 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu xanh, kích thước (7x4,5)cm, bên trong đựng 18 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong (ký hiệu M1), B khai đều là H mua về để bán kiếm lời; trong túi quần phía sau bên phải B đang mặc 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (là tiền bán 02 gói Heroine cho Nguyễn Hữu Đ). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đào Quang B và tạm giữ của B 01 điện thoại di động màu đen đã cũ, mặt sau có chữ Samsung.
Tại Cơ quan điều tra, Đào Quang B khai: Khoảng 07 giờ ngày 19-6-2024, B mua 23 gói Heroine của một người đàn ông không quen biết ở khu vực gầm cầu Đ, phường N, thành phố N với giá 1.000.000 đồng cho vào 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu xanh, kích thước (7x4,5) cm cất vào trong túi quần phía trước bên phải B đang mặc. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, B lấy 02 gói Heroine để trong lọ nhựa màu xanh bán cho Đ với giá 200.000 đồng. Số ma túy còn lại B khai nếu có khách hỏi mua sẽ bán với giá 100.000 đồng/01 gói, nếu bán hết số ma túy lãi được 1.300.000 đồng.
Bản kết luận giám định số 1601/KL-KTHS ngày 18-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy bạc màu vàng được niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu: 0,179 (không phảy một trăm bảy mươi chín) gam.
Bản kết luận giám định số 1608/KL-KTHS ngày 18-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 phong bì thư được niêm phong ký hiệu M, M1 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu M: 0,252 (không phảy hai trăm năm mươi hai) gam; Tổng khối lượng mẫu M1: 1,417 (một phảy bốn trăm mười bảy) gam.
Cơ quan điều tra xác định 02 số điện thoại 0943.243.xxx và 0842963299 chủ thuê bao là của Nguyễn Hữu Đ và Đào Quang B đã dùng giao dịch mua bán ma túy.
Bản cáo trạng số 262/CT-VKSND-TPNĐ ngày 04-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đào Quang B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Nguyễn Hữu Đ, Đào Quang B khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đ; Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Đào Quang B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Đào Quang B từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, phạt tiền bị cáo từ 05 triệu đến 10 triệu để sung vào ngân sách nhà nước; Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hữu Đ, Đào Quang B không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của các bị cáo Nguyễn Hữu Đ, Đào Quang B, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 1601/KL-KTHS ngày 18-9-2024 và số 1608/KL-KTHS ngày 18-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh N cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 09 giờ 05 phút ngày 16-9-2024, tại khu vực trước cửa số nhà A đường H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, Nguyễn Hữu Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,179 gam Heroine mục đích để sử dụng. Khoảng 15 giờ 25 phút ngày 16-9-2024, tại khu vực ngã ba đường T và đường T, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định, Đào Quang B đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,669 gam Heroine để bán kiếm lời, ngoài ra, khoảng 09 giờ 00 phút ngày 16-9-2024, Đào Quang B đã có hành vi bán trái phép 0,179 gam Heroine cho Nguyễn Hữu Đ. Tổng khối lượng Đào Quang B mua bán trái phép 1,848 gam Heroine. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Đào Quang B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của các bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo Nguyễn Hữu Đ có 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính (đã được xoá tiền sự) và có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; bị cáo Đào Quang B có 02 lần bị kết án (đã được xóa án tích) và 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính (đã được xóa tiền sự). Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo Nguyễn Hữu Đ không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xét thấy bị cáo Đào Quang B thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, 01 lọ nhựa hình trụ màu xanh là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy. Số tiền 200.000 đồng là do phạm tội mà có, 01 chiếc điện thoại di động iPhone, màu hồng trắng thu giữ của bị cáo Đ và 01 điện thoại di động màu đen đã cũ, mặt sau có chữ Samsung thu giữ của bị cáo B là phương tiện các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18F2-9714 là tài sản của ông Nguyễn Hữu T (bố Đ), ông T không biết Đ mượn xe đi mua ma túy sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N trả lại xe cho ông Nguyễn Hữu T là đúng quy định của pháp luật.
[6] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Đào Quang B, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Hữu Đ, Đào Quang B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 02 năm 03 tháng (Hai năm ba tháng) tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 16-9-2024.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố bị cáo Đào Quang B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đào Quang B 04 năm 03 tháng (Bốn năm ba tháng) tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 16-9-2024.
Phạt tiền bị cáo Đào Quang B 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy có trong phong bì niêm phong số 1601/KL-KTHS và số 1608/KL-KTHS; 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu xanh.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) thu của bị cáo Đào Quang B trong túi niêm phong có mã số NS3.23039108.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động iPhone, màu hồng trắng của bị cáo Đ trong túi niêm phong có mã số NS3.23039103 và 01 điện thoại di động màu đen đã cũ, mặt sau có chữ Samsung của bị cáo B trong túi niêm phong có mã số NS3.23039104.
(chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 12-11-2024).
- Án phí: Các bị cáo Nguyễn Hữu Đ, Đào Quang B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo Nguyễn Hữu Đ, Đào Quang B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - VKSND TP. Nam Định;
- - Công an TP. Nam Định;
- - Chi cục THADS TP. Nam Định;
- - Lưu hồ sơ vụ án, VP.
Bản án số 255/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 255/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Đạt - TTMT; Đào Quang Bảo - MBMT
