Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2024/HS - ST

Ngày: 21 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan.

2. Ông Nguyễn Quang Đạt.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Chu Văn Quang- Kiểm sát viên.

Trong ngày 21/11/2024, tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 232/2024/TLST-HS ngày 23/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2024/QĐXXST-HS ngày 07/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 29/11/2002 tại Ninh Bình.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm B, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: P, tòa I chung cư I khu đô thị V, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Hoàng Thị S; vợ con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 22/6/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Nguyễn Văn T, sinh ngày 12/7/2003 tại Vĩnh Phúc.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn S, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở: số A K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Khổng Thị N1; vợ con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1996; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: số A, hẻm B Đ,

2

phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2001; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn S, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở: số A, ngách A T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Minh Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên ngày 01/06/2024, Nguyễn Hoàng P nảy sinh ý định vào quán game lúc sáng sớm xem có người chơi nào sơ hở, không trông giữ tài sản sẽ trộm cắp tài sản rồi bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 05h30 sáng ngày 02/6/2024, P vào quán G Đi Nắng, địa chỉ: số B N, phường N, quận T, thành phố Hà Nội xem ai sở hở thì trộm cắp tài sản. P đi từ tầng 1 lên tầng 4, phát hiện 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, dung lượng 128GB của anh Nguyễn Thanh H đang đặt trên bàn cạnh vị trí anh H đang ngủ. P tiến lại ngồi vào vị trí máy tính P bên phải anh H, nhìn xung quanh không thấy ai để ý và trộm cắp chiếc điện thoại trên của anh H rồi rời khỏi quán game. Sau đó, P gọi điện thoại cho Nguyễn Văn H1 là khách trước đó mua điện thoại của P để hỏi H1 có mua Iphone 12 Promax màu xanh không. Khi này, P nói dối H1 là chiếc điện thoại nhặt được nên không rõ thông số do không có mật khẩu, không truy cập được. H1 hẹn P đến địa chỉ A K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội để kiểm tra tình trạng máy. H1 gọi điện thoại nhờ em trai là Nguyễn Văn T đi cùng để kiểm tra máy. Đến khoảng 06h30 cùng ngày, H1 đến địa chỉ số A K nhà trọ nơi T đang ở rồi cả hai đi ra đường bờ sông T gặp P để kiểm tra điện thoại. Khi gặp nhau, T đứng phía sau không tham gia kiểm tra và thỏa thuận mua máy. H1 nhận 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh từ P và P vẫn nói dối nhặt được điện thoại nên không rõ thông số. Qua kiểm tra bên ngoài, H1 không thấy vỡ nát, ấn nút nguồn thì máy báo hết pin. Tin tưởng lời P nói nên H1 đồng ý mua chiếc điện thoại với giá 5.150.000 đồng. H1 sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số [...] mang tên NGUYEN VAN HUNG chuyển khoản 5.150.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M số 8868888689999 mang tên NGUYEN HOANG PHUC của P. Thưởng và H1 mang máy về phòng trọ. Tại đây, H1 cắm sạc điện thoại nhưng sau 5 phút máy vẫn không lên nguồn nên H1 đã tháo để lấy linh kiện bán kiếm lời. H1 giao linh kiện điện thoại cho T để nhờ Thưởng đăng bài bán toàn bộ số linh kiện trên mạng xã hội. Thưởng đã đăng bài lên nhóm facebook "Chợ mua bán điện thoại cũ giá rẻ Hà Nội" để bán số linh kiện trên được 6.000.000 đồng, T giao lại cho cho H1 5.700.000 đồng và giữ lại 300.000 đồng, riêng chiếc sim gắn trong điện thoại Thưởng giữ lại. Trong ngày 02/6/2024, T lắp sim điện thoại này vào điện thoại cá nhân là Iphone 11 Promax màu xám rồi thao tác cú pháp *101# cho kết quả hiển thị số thuê bao 0961.829.996 và thông tin tiền cước điện thoại còn trong thuê bao. Thưởng đoán chủ điện thoại này vẫn đang dùng số thuê bao trên nên đã truy cập ứng dụng My V đăng nhập tài khoản là số thuê bao 0961.829.996 và mã OTP được gửi về điện

3

thoại. Sau khi đăng nhập thành công, Thưởng kiểm tra thông tin chủ thuê bao thì biết được chủ thuê bao cũng là chủ điện thoại Iphone 12 Promax tên Nguyễn Thanh H, sinh ngày 09/9/1996. Lúc này, T tiếp tục đăng nhập vào ví shopeepay với tài khoản là số thuê bao 0961.829.996 và nhập thử mật khẩu truy cập là ngày tháng năm sinh của Nguyễn Thanh H với số "090996", kết quả đăng nhập thành công ví điện tử này. Thưởng kiểm tra ví shopeepay thấy tài khoản ví còn dư số tiền 198.000 đồng và ví đang được liên kết với tài khoản ngân hàng H2 số 116704070003516 mang tên Nguyễn Thanh H. Thưởng nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng H2 và ví điện tử này bằng cách thao tác nạp tiền từ tài khoản H2 vào ví shopeepay của anh Nguyễn Thanh H số tiền 2.702.000 đồng (thao tác nạp 8 lần trong đó: 4 lần 500.000 đồng; 1 lần 302.000 đồng; 2 lần 100.000 đồng, 1 lần 200.000 đồng) đến khi không nạp được nữa và tổng số tiền trong ví shopeepay của anh H là 2.900.000 đồng. Sau đó T chuyển hết số tiền 2.900.000 đồng từ ví Shopeepay trong ví điện tử của anh Nguyễn Thanh H vào tài khoản ví Shopeepay số +843487922236 của bạn T tên là Trần Minh Đ. Thưởng tiếp tục đăng nhập vào tài khoản ví Shopeepay của Trần Minh Đ, thao tác chuyển toàn bộ số tiền 2.900.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M số 66601181202 của Trần Minh Đ liên kết với ví điện tử của Đ. Toàn bộ số tiền này sau khi chiếm đoạt được thì T vẫn để nguyên trong tài khoản ngân hàng M 66601181202 mang tên Trần Minh Đ mà chưa rút ra sử dụng.

Sáng ngày 02/6/2024, anh H phát hiện bị trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, dung lượng 128Gb, đồng thời tài khoản ngân hàng H2 và ví shopeepay của anh H phát sinh các giao dịch chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng vào ví rồi từ ví của anh H sang ví shopeepay của người có tên Trần Minh Đ, số điện thoại: +843487922236 với tổng số tiền bị chiếm đoạt là 2.900.000 đồng. Ngày 03/6/2024 anh Nguyễn Thanh H đã đến Công an phường N, T, Hà Nội trình báo. Cơ quan công an đã triệu tập Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H1, Trần Minh Đ đến làm việc, tại cơ quan công an: Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản số tiền 2.900.000 đồng của anh Nguyễn Thanh H, phù hợp tài liệu chứng cứ thu thập được và nội dung vụ án nêu trên.

Cơ quan công an thu giữ của Nguyễn Văn T: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu ghi xám, số imei: 35287111145971; số imei 2: 35287111138037.

Cơ quan công an thu giữ của Nguyễn Văn H1: 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, số imei: 356713110388855, số imei 2: 356713110523717.

Tại bản Kết luận định giá số 129/KL-HĐĐGTS ngày 25/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc UBND quận T kết luận: Chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, dung lượng 128Gb tại thời điểm tháng 06/2024 có giá trị là: 8.000.000 đồng.

Ngày 20/6/2024, Nguyễn Hoàng P đã đến trụ sở công an quận T, Hà Nội đầu thú về hành vi Trộm cắp tài sản.

4

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Đối với Nguyễn Văn H1 khai không biết chiếc điện thoại Iphone 12 Promax mà Nguyễn Hoàng P bán cho vào ngày 02/6/2024 là tài sản do P phạm tội mà có nên H1 vẫn thu mua. Đối với sự việc T sử dụng sim điện thoại của chiếc Iphone 12 Promax mà H1 mua từ P, sau đó Thưởng chiếm quyền sử dụng ví điện tử và tài khoản ngân hàng của anh Nguyễn Thanh H rồi chiếm đoạt tiền thì H không biết, không tham gia, cũng không được hưởng lợi. Do đó, Cơ quan CSĐT – Công an quận T không đề cập xử lý.

Đối với Trần Minh Đ khai là chủ tài khoản ngân hàng M số 66601181202 và ví điện tử Shopeepay số tài khoản +843487922236. Đ và T có mối quan hệ bạn bè có ở trọ cùng nhau, tuy nhiên Đ không biết việc T sử dụng tài khoản ví shopeepay và tài khoản ngân hàng M của Đ vào việc chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Thanh H và cũng không được hưởng lợi. Do đó, Cơ quan CSĐT – Công an quận T không đề cập xử lý.

Đối với số tiền 2.900.000 đồng, T chiếm đoạt từ tài khoản ngân hàng và ví điện tử S1 của anh Nguyễn Thanh H cất giấu trong tài khoản ngân hàng M số 66601181202 mang tên Trần Minh Đ. Ngày 05/7/2024 anh Đ đã tự nguyện đến ngân hàng M rút số tiền 2.900.000 đồng giao nộp Cơ quan điều tra. Ngày 26/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận T ra Quyết định xử lý vật chứng đối với số tiền 2.900.000 đồng bằng hình thức trả lại cho người bị hại là anh Nguyễn Thanh H.

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, số imei: 356713110388855, số imei 2: 356713110523717 thu giữ của Nguyễn Văn H1. Quá trình điều tra xác định, H1 không sử dụng chiếc điện thoại liên quan đến hành vi phạm tội của T. Do đó, ngày 26/9/2024, Cơ quan điều tra – Công an quận T đã trao trả chiếc điện thoại trên cho anh Nguyễn Văn H1.

Về dân sự: Gia đình Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Văn T đã bồi thường thỏa đáng cho anh Nguyễn Thanh H. Anh H có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Văn T và không có yêu cầu khác về dân sự.

Bản Cáo trạng số 215/CT - VKS ngày 15/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã quyết định:

  • - Truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
  • - Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 290 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

5

*Về trách nhiệm hình sự:

  • - Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 65; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội: “Trộm cắp tài sản”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận N, thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • - Đề nghị áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 290; Điều 65; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, quận T, thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

*Về các biện pháp tư pháp: đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu ghi xám, số imei: 352871111459721; số imei 2: 352871111380372, mặt lưng kính điện thoại bị rạn nứt (đã qua sử dụng).

Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng: đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá về hành vi của các bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, Điều của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng P đều khai nhận: do thiếu tiền tiêu xài nên bị cáo đã nảy sinh ý định vào trong quán game lúc sáng sớm xem có người chơi nào sơ hở sẽ lén lút lấy trộm tài sản của họ rồi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Vào khoảng 05h30 sáng ngày 02/06/2024 bị cáo đến quán

6

G Đi Nắng, bị cáo đi từ tầng 1 lên đến tầng 4 có hành động ngó nghiêng xem có người chơi nào sở hở không trông giữ tài sản sẽ lấy trộm, khi bị cáo lên đến phòng chơi game tầng 4 bị cáo thấy một nam thanh niên đang ngủ, điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh thẫm của người này đặt trên mặt bàn không trông giữ. Thấy vậy bị cáo ngồi vào vị trí máy tính cạnh bên phải người nam thanh niên này giả vờ khởi động máy tính lên xem người này có phản ứng hay tỉnh dậy không, thì người này vẫn ngủ. Bị cáo nhìn ngó xung quanh không thấy ai để ý nên đã nhanh tay cầm luôn chiếc điện thoại Iphone 12 Promax của nam thanh niên này rồi nhanh chóng rời đi, ra khỏi quán game. Lấy trộm được máy điện thoại, bị cáo gọi điện thoại cho anh H là khách hay mua điện thoại của bị cáo để hỏi xem H có mua chiếc máy điện thoại này không, bị cáo nói dối H là bị cáo vừa nhặt được một chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh blue thẫm, máy có mật khẩu không truy cập được. Thì H hẹn bị cáo đến địa chỉ: A K, H, T, Hà Nội sẽ có người gặp bị cáo xem máy, bị cáo đồng ý. Đến khoảng mấy giờ 06h00 ngày 02/06/2024 bị cáo có mặt tại địa chỉ trước số A K bị cáo gọi cho H thì một lúc sau có một nam thanh niên khác (bị cáo không rõ thông tin tên tuổi) ra gặp bị cáo và xem máy điện thoại Iphone 12 Promax. Người nam thanh niên này bị cáo được H cho biết là em của H. Khi xem máy bị cáo cũng không nói cho người nam thanh niên này biết chiếc máy là do bị cáo trộm cắp mà có, cũng không nói dối là bị cáo nhặt được. Anh H mua điện thoại của bị cáo giá mua là 5.150.000 đồng và chuyển khoản vào tài khoản số 8868888689999 mang tên bị cáo. Sau khi nhận được tiền bị cáo đã tiêu xài hết.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đều khai nhận: bị cáo và anh Nguyễn Văn H1 làm công việc thu mua điện thoại cũ để đăng lên mạng xã hội bán kiếm lời. Vào khoảng 06h30 sáng ngày 02/6/2024 bị cáo đang ở nhà trọ tại số A K, H, T, Hà Nội thì nhận được cuộc gọi điện thoại từ anh H1 nhờ bị cáo đi cùng H1 gặp khách thu mua điện thoại di động và H1 đã hẹn khách đến số A K để gặp nhau kiểm tra tình trạng máy trước khi mua. Đến khoảng gần 7h cùng ngày 02/6/2024 thì anh H1 đến nhà gọi bị cáo xuống, sau đó bị cáo và H1 đi ra đường bờ sông T để gặp Nguyễn Hoàng P là người bán điện thoại. Tại đây, P có đưa cho anh H1 kiểm tra tình trạng máy của 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh blue thẫm, bị cáo đứng phía sau anh H1 cách khoảng 02 mét và nghịch điện thoại cá nhân. Do anh H1 có chuyên môn kỹ thuật máy móc điện tử nên anh H1 là người trực tiếp kiểm tra tình trạng chiếc điện thoại nhận từ P. Sau khi kiểm tra xong thì anh H1 có thống nhất mua chiếc máy điện thoại của P rồi anh H1 chuyển khoản trả tiền cho P. Anh H1 mua điện thoại xong thì bị cáo và H1 đi về nhà bị cáo, trên đường về bị cáo hỏi anh H1 là mua với giá bao nhiêu thì H1 nói cho bị cáo biết là mua điện thoại của P với giá 5.150.000 đồng, bị cáo hỏi tiếp máy gì đấy thì H1 nói là P bảo máy P nhặt được và bị cáo không hỏi gì thêm. Sau đó bị cáo và H1 mang chiếc điện thoại Iphone 12 Promax lên phòng làm việc của bị cáo để cắm sạc cho chiếc máy này vì khi anh H1 thu mua thì máy trong tình trạng hết Pin không khởi động máy được. Anh H1 cắm sạc cho máy khoảng 5 phút nhưng màn hình chỉ hiển thị hình cục P1 và không thấy hiển thị thêm hình nào khác. Ngay sau đó không khởi động

7

được máy nên anh H1 đã tháo linh kiện của máy và giao toàn bộ các linh kiện này cho bị cáo bảo bị cáo là đăng bài bán các linh kiện này lên mạng xã hội facebook. Sau đó bị cáo dùng tài khoản facebook đăng bài bán các linh kiện này trong nhóm "Chợ Mua Bán Điện Thoại Cũ Giá Rẻ Hà Nội". Còn lại chiếc Sim gắn trong chiếc máy điện thoại này bị cáo đã tháo rời ra, và lắp chiếc Sim vào máy điện thoại cá nhân của bị cáo rồi gọi điện đến số *101# tổng đài hiện thông tin số thuê bao là 0961.829.996 và thông tin số tiền cước điện thoại còn trong sim. Bị cáo thấy sim này vẫn còn tiền trả trước, bị cáo nghĩ chủ thuê bao này vẫn đang sử dụng hằng ngày nên bị cáo đã vào ứng dụng My Viettel đăng nhập tài khoản là số điện thoại này, truy cập tài khoản bằng tin nhắn mã OTP, sau đó tổng đài đã trả lời bằng tin nhắn với nội dung mã OTP và bị cáo đã đăng nhập thành công tài khoản M1 đối với số thuê bao 0961.829.996. Bị cáo vào mục thông tin cá nhân thì thấy thông tin chủ thuê bao tên là Nguyễn Thanh H, ngày tháng năm sinh của người này là 09/09/1996. Lúc này bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong tài khoản của người này bằng cách bị cáo thử đăng nhập vào ứng dụng Shoppepay với tài khoản đăng nhập là số điện thoại 0961.829.xxx và mật khẩu truy cập bị cáo thử là ngày tháng năm sinh của Nguyễn Thanh H tức "090996" kết quả đã trùng khớp và truy cập thành công tài khoản ví S2, bị cáo ấn vào mục liên kết thì thấy thông tin ví này đang liên kết với tài khoản ngân hàng H2 mang tên Nguyễn Thanh H để chiếm đoạt tiền trong tài khoản này, bị cáo đã thao tác thử nạp tiền từ tài khoản H2 của Nguyễn Thanh H vào ví ShoppePay của H với số tiền 2.100.000 đồng thì kết quả thành công ví shoppepay của H đã có tiền 2.100.000 đồng, sao đó bị cáo dùng ví Shoppepay của H chuyển số tiền 2.100.000 đồng này vào ví Shoppepay của bạn bị cáo tên Trần Minh Đ, rồi bị cáo truy cập tài khoản Shoppepay của Đ tiếp tục chuyển số tiền 2.100.000 đồng vừa nhận được vào tài khoản khoản ngân hàng M số 6660118122222002 của Đ liên kết với ví Shoppepay của Đ. Nhận thấy tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thanh H có tiền nên bị cáo tiếp tục thao tác và lấy được thêm lần lượt số tiền 600.000 đồng và 200.000 đồng. Bị cáo tiếp tục thử rút tiền từ tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thanh H nhưng không được và đoán tài khoản đã hết tiền. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được bị cáo vẫn để nguyên trong tài khoản ngân hàng M của Trần Minh Đ và chưa rút ra tiêu sài khoản tiền này. Sau đó, bị cáo đã vứt chiếc sim điện thoại đi.

Tại bản Kết luận định giá số 129/KL-HĐĐGTS ngày 25/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc UBND quận T kết luận: Chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, dung lượng 128Gb tại thời điểm tháng 06/2024 có giá trị là: 8.000.000 đồng.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 02/6/2024, tại quán G Đi Nắng tại số B N, phường N, quận T, thành phố Hà Nội, Nguyễn Hoàng P đã trộm cắp 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh trị giá 8.000.000 đồng của anh Nguyễn Thanh H.

Ngày 02/6/2024, Nguyễn Văn T có hành vi sử dụng mạng máy tính, viễn

8

thông để chiếm đoạt 2.900.000 đồng của anh Nguyễn Thanh H tại A K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng P đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự.

Do đó, bản Cáo trạng số 215/CT - VKS ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.

[3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình thức xử lý đối với các bị cáo:

3.1.Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân của các bị cáo: các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiến sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • + Bị cáo Nguyễn Hoàng P trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn T trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại; gia đình bị cáo T được tặng nhiều giấy khen và bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

3.2. Về hướng xử lý đối với các bị cáo: hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng P đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã xâm phạm đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ tài sản. Tuy nhiên, các bị cáo Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Văn T là người có nơi cư trú rõ ràng; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường cho bị hại; có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn, hối cải; các bị cáo đều phạm tội lần

9

đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và người bị hại có đơn đề nghị xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Trên cơ sở các quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/ NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (đã được Tòa án nhân dân tối cao hợp nhất tại Văn bản số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022); xét về nhân thân và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho cho các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục, cải tạo để các bị cáo có điều kiện trở thành công dân có ích. Do các bị cáo không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[4] Về các biện pháp tư pháp và các vấn đề khác của vụ án:

  • - Đối với chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T, xét thấy bị cáo dùng chiếc điện thoại trên vào hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - Anh Nguyễn Văn H1 không biết chiếc điện thoại Iphone 12 Promax mà bị cáo P bán cho vào ngày 02/6/2024 là tài sản do P phạm tội mà có nên H1 vẫn thu mua. Đối với sự việc T sử dụng sim điện thoại của chiếc Iphone 12 Promax, sau đó T chiếm quyền sử dụng ví điện tử và tài khoản ngân hàng của anh Nguyễn Thanh H rồi chiếm đoạt tiền thì anh H không biết, không tham gia, cũng không được hưởng lợi. Do đó, Cơ quan CSĐT – Công an quận T không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  • - Anh Trần Minh Đ là chủ tài khoản ngân hàng M số 66601181202 và ví điện tử Shopeepay số tài khoản +843487922236. Anh Đ và bị cáo T có mối quan hệ bạn bè có ở trọ cùng nhau, tuy nhiên anh Đ không biết việc T sử dụng tài khoản ví shopeepay và tài khoản ngân hàng M của Đ vào việc chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Thanh H và cũng không được hưởng lợi. Do đó, Cơ quan CSĐT – Công an quận T không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về dân sự:

  • - Bị hại anh Nguyễn Thanh H đã được gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng P và gia đình bị cáo Nguyễn Văn T đã bồi thường. Anh H không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  • - Đối với số tiền 5.150.000 đồng là số tiền mà anh Nguyễn Văn H1 đã mua điện thoại của bị cáo P. Tại phiên tòa, anh H1 không yêu cầu bị cáo P phải trả lại số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ

10

thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 65; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/11/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng P cho Ủy ban nhân dân phường T, quận N, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng P có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, quận N, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; Điều 65; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/11/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường H, quận T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, quận T, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về các biện pháp tư pháp: căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

11

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu ghi xám, số imei: 352871111459721; số imei 2: 352871111380372, mặt lưng kính điện thoại bị rạn nứt (đã qua sử dụng).

(Tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).

3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về biện pháp ngăn chặn: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đã áp dụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P và bị cáo Nguyễn Văn T.

5. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo, bị hại;
  • - NCQLNVLQ;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Viện KSND quận Thanh Xuân;
  • - Viện KSND thành phố Hà Nội;
  • - Cơ quan điều tra CA quận Thanh Xuân;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Thanh Xuân;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Xuân;
  • - Lưu VT, HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lưu Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2024/HS - ST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 255/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội Trộm cắp tài sản; bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger