|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 255/2024/HS-ST Ngày 29 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Hiền
- Bà Bùi Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2024, tại hội trường xét xử số 1 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 231/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn C, tên gọi khác: không; sinh ngày: 01 tháng 5 năm 1973, tại tỉnh Nam Định; nơi thường trú: xóm C, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: tổ D, khu E, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 và bà Vũ Thị S; đã ly hôn vợ; có 01 con, sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
2. Phạm Văn H, tên gọi khác: không; sinh ngày: 19 tháng 6 năm 1988 tại tỉnh Nam Định; nơi thường trú: thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: tổ D, khu E, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; chưa xác định được cha đẻ; con bà Phạm Thị T; có vợ là
2
Nguyễn Thị T1; có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân:
- + Ngày 27/4/2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 09 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt cho cả hai tội là 15 tháng tù. Đến ngày 12/11/2005, chấp hành xong bản án.
- + Ngày 28/11/2016, Tòa án nhân dân thành phố huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đến ngày 05/5/2018, chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ từ ngày 28/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người chứng kiến:
- Anh Ngô Nhật T2, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Tiến T3, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C và Phạm Văn H đều là người sử dụng ma túy và cùng thuê trọ tại tổ D, khu E, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 28/5/2024, H đi làm về phòng trọ thì C bảo H “Hai anh em mình chung tiền đi kiếm ma túy về chơi”, biết là C rủ chung tiền mua ma túy nên H đồng ý và bỏ ra số tiền 300.000 đồng (bao gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) đưa cho C để góp tiền mua ma túy. C cầm tiền của H và lấy trong người ra 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng góp, rồi cả hai đi bộ từ phòng trọ đến khu vực trường Đại học H2 thuộc phường H, thành phố H để tìm mua ma túy. Khi H và C đi đến khu vực sau trường Đại học H2 thuộc tổ H, khu B, phường H, thành phố H nhìn thấy 01 người phụ nữ không quen biết có biểu hiện giống người sử dụng ma túy. Học và C đến gần người phụ nữ, C hỏi muốn mua 500.000 đồng ma túy Heroin thì người phụ nữ đồng ý nên C đưa số tiền 500.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) cho người phụ nữ. Sau đó, người phụ nữ cầm tiền đi khoảng 20 phút và quay lại chỗ H và C đang đứng và chỉ chỗ cất giấu ma túy trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long trên trụ bê tông hàng rào sắt gần chỗ H và C đang đứng. Học và C đi đến gần vị trí người phụ nữ chỉ, C đứng ở dưới, H trèo lên tường lấy được 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L xuống mở cho C cùng xem và thấy bên trong có 01 gói giấy chứa Heroin. Sau khi mua được ma túy, H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải và
3
cùng đi với C tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi H và C đi bộ đến đoạn đường thuộc tổ H, khu B, phường H, thành phố H thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên tay phải của H 01 vỏ bao thuốc lá có 01 gói giấy chứa cục bột màu trắng (kí hiệu M); thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh kèm 01 sim; thu giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đen kèm 01 sim.
Kết luận giám định số 779/KL - KTHS ngày 02/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: mẫu vật kí hiệu M gửi giám định là ma túy, loại: Heroin, có khối lượng 0,237 gam (không phẩy hai ba bảy gam).
Quá trình điều tra, Phạm Văn H và Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Người chứng kiến anh Nguyễn Tiến T3, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ D, khu I, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và anh Ngô Nhật T2, sinh năm 1994; nơi cư trú: tổ C, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh có lời khai xác nhận: vào khoảng 19 giờ ngày 28/5/2024 tại khu vực cổng sau trường Đại học H2 thuộc tổ H, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh chứng kiến lực lượng Công an bắt quả tang Nguyễn Văn C và Phạm Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình bắt quả tang, Công an thu giữ tại tay phải của H đang cầm 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng. C và H đều khai nhận đó là ma túy, loại H1, cả hai cùng góp tiền mua để cùng nhau sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, còn thu giữ 01 điện thoại của C và 01 điện thoại của H.
Tại Cáo trạng số: 4242/CT-VKSHL ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn C từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024; Phạm Văn H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam ma túy Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn
4
nguyên niêm phong số 779/KL-KTHS ngày 02/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
Trả lại bị cáo Phạm Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh + kèm 01 sim; bị cáo Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh đen + kèm 01 sim.
Quá trình khai báo các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc. Lời nói sau cùng của các bị cáo: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình giải quyết vụ án, bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn C và Phạm Văn H phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung vụ án về việc C rủ H chung tiền mua ma túy về sử dụng, H đồng ý bỏ ra 300.000 đồng đưa cho C; C lấy trong người ra 200.000 đồng góp, rồi cả hai đi bộ từ phòng trọ đến khu vực trường Đại học H2 thuộc phường H, thành phố H để tìm mua ma túy. Tại đây, cả hai thấy một phụ nữ không quen biết có biểu hiện giống người sử dụng ma túy nên hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroin thì người phụ nữ đồng ý nên C đưa số tiền 500.000 đồng cho người phụ nữ. Sau đó, người phụ nữ cầm tiền đi khoảng 20 phút và quay lại chỗ H và C đang đứng và chỉ chỗ cất giấu ma túy. Học trèo lên tường lấy trên trụ bê tông 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L xuống mở cho C cùng xem và thấy bên trong có 01 gói giấy chứa Heroin. Sau khi mua được ma túy, H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải và cùng C tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, tại đoạn đường thuộc tổ H, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn C và Phạm Văn H bị Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép 0,237 gam ma tuý, loại Heroin, mục đích sử dụng.
Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến – anh Ngô Nhật T2, anh Nguyễn Tiến T3 là người chứng kiến quá trình Công an phát
5
hiện bắt quả tang các bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích sử dụng cho bản thân; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh lập vào hồi 19 giờ 00 phút ngày 28/5/2024 về việc bắt quả tang Nguyễn Văn C và Phạm Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích sử dụng cho bản thân; phù hợp với Kết luận giám định số 779/KL-KTHS ngày 02/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn C, Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma túy nhưng không ý thức chấp hành pháp luật vẫn cất giấu ma túy mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, bị cáo Phạm Văn H còn có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử, đã được giáo dục cải tạo nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng giáo dục bản thân, mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do vậy, cần xử các bị cáo mức án nghiêm phù hợp với nhân thân, tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo.
Xét tính chất đồng phạm và vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm nhưng không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau từ trước mà chỉ nhất thời phạm tội nên không phải phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo cùng nhau góp tiền, cùng nhau đi mua ma túy về sử dụng. Do vậy, các bị cáo có vai trò ngang nhau trong việc thực hiện tội phạm như nhận định của Viện kiểm sát tại phiên tòa và phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và vai trò thực hiện hành vi phạm tội của mình.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính: căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng.
6
[8] Về vật chứng vụ án: 0,19 gam ma túy Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 779/KL-KTHS ngày 02/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh + kèm 01 sim thu của Phạm Văn H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh đen + kèm 01 sim thu của Nguyễn Văn C, quá trình điều tra xác định H và C dùng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần trả lại cho các bị cáo.
[9] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với phụ nữ đã bán ma túy cho các bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Phạm Văn H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 28/5/2024.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn C 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 28/5/2024.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 779/KL-KTHS ngày 02/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
Trả lại bị cáo Phạm Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh + kèm 01 sim.
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh đen + kèm 01 sim.
7
(tình trạng vật chứng trên như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 288/BB-THA ngày 13/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Văn C, Phạm Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn C, Phạm Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Cúc |
Bản án số 255/2024/HS-ST ngày 29/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 255/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C cùng ĐP - TTMT
