|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 255/2024/DS-ST Ngày 20 - 8 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hùng
Ông Nguyễn Hoài Phong
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 450/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần Sawad T ; địa chỉ: Số 128, đường Nguyễn Du, phường Bến Thuỷ, thành phố V, tỉnh N .
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông KANOKAWATPAISAL N . (Giám đốc Công ty).
Người đại diện theo ủy quyền của ông N : Ông Trần Phong P, sinh năm 1998; địa chỉ cư trú: Số 220 đường 3/2, Phường 5, thành phố C, tỉnh C. (văn bản ủy quyền ngày 01/01/2024).
Người đại diện theo uỷ quyền của ông P : Ông Trần Thanh T, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Số 220 đường 3/2, Phường 5, thành phố C, tỉnh C. (văn bản ủy quyền ngày 01/6/2024). (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Hoàng K, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Ấp Tân An A, xã Tạ An Khương Đông, huyện Đ, tỉnh C. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 4 năm 2024, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Thanh T trình bày: Ngày 24/10/2020 ông Trần Hoàng K hợp đồng cầm cố tài sản cho Công ty TNHH Srisawad V -Chi nhánh Cà Mau (Công ty) theo hợp đồng cầm cố xe moto hai bánh, biển kiểm soát: 69F1-559.21; loại xe Mxking; màu đen; số khung: 0750LK053010; số máy: G3E6E0559243; giấy đăng ký xe moto số 045108 do Công an huyện Đầm Dơi cấp ngày 27/12/2019 và giấy mượn xe lập ngày 24/10/2020. Cầm cố vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1.1%/tháng, lãi quá hạn 150% lãi suất quy định; phí phát sinh theo thỏa thuận hợp đồng và phí quản lý hồ sơ 4%; thời hạn cầm cố 18 tháng; ngày đến hạn 24/4/2022.
Do nhu cầu đi lại ngày 24/10/2020 ông K có đơn gửi đến Công ty xin mượn lại xe và cam kết theo giấy mượn xe từ ngày 24/10/2020 đến ngày 24/11/2020. Công ty đồng ý cho ông K mượn lại xe theo cam kết và trả lại xe cho Công ty đúng thời hạn.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông K đã thanh toán được cho Công ty được 04 tháng tổng số tiền 7.016.000 đồng. Trong đó tiền gốc 3.040.221 đồng; tiền lãi 831.915 đồng; phí 3.025.144 đồng; tiền trễ hạn 117.155 đồng.
Sau đó ông K không thực hiện việc trả nợ theo đúng cam kết trong hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Công ty. Công ty đã nhiều lần làm việc và gửi thông báo nhắc nhở tạo điều kiện cho ông Kha thời gian thu xếp trả nợ nhưng ông K không thực hiện.
Công ty cổ phần Sawad T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Hoàng K trả lại chiếc xe biển kiểm soát 69F1-559.21 theo giấy mượn xe ngày 24/10/2020. Trường hợp ông Trần Hoàng K không trả lại xe theo giấy mượn xe thì buộc ông K phải thanh toán cho Công ty số tiền tạm tính đến ngày 05/4/2024 là 58.371.000 đồng (trong đó tiền gốc 16.959.790 đồng, lãi trong hạn 2.611.808 đồng, tiền lãi quá hạn 29.300.000 đồng, phí quản lý hồ sơ 9.498/482 đồng). Ngoài ra, ông Kha còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe kể từ ngày 05/4/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Tại phiên tòa ông Trần Thanh T thay đổi không yêu cầu ông Trần Hoàng K trả lại chiếc xe biển kiểm soát 69F1-559.21; không yêu cầu trả phí quản lý hồ sơ và điều chỉnh lại phần lãi suất quá hạn như sau: Yêu cầu ông K phải thanh toán cho Công ty số tiền tạm tính đến ngày 09/7/2024 là 26.978.000 đồng (trong đó tiền gốc 16.959.790 đồng, lãi trong hạn 1,1% x 14 tháng = 2.611.808 đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày 25/4/2022 đến ngày 09/7/2024 là 26 tháng 14 ngày x 1,65% = 7.406.340 đồng; Công ty đồng ý trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 69F1-559.21 cho ông K.
Đối với bị đơn ông Trần Hoàng K : Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông K theo quy định pháp luật, nhưng ông K không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng ông K vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Thanh T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sawad T về việc không yêu cầu ông Trần Hoàng K trả lại chiếc xe biển kiểm soát 69F1-559.21; không yêu cầu trả phí quản lý hồ sơ và điều chỉnh lại phần lãi suất quá hạn. Xét thấy, việc thay đổi của ông T là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên được chấp nhận theo khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Xét việc Công ty cổ phần Sawad T yêu cầu buộc ông K trả cho Công ty tiền còn nợ đến ngày 09/7/2024 số tiền 16.959.790 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, ngày 24/10/2020 ông Trần Hoàng K cầm cố tài sản cho Công ty chiếc xe máy biển kiểm soát 69F1-559.21 của ông K đứng tên để vay số tiền 20.000.000 đồng. Trong qúa trình thực hiện hợp đồng, ông K đã thanh toán cho Công Ty được số tiền gốc, lãi, lãi quá hạn và phí quản lý vay số tiền 7.016.000 đồng. Kể từ ngày 24/3/2021 đến nay ông K không thực hiện thanh toán tiền theo Hợp đồng cho Công ty. Nhiều lần Công ty nhắc nhở, nhưng ông K không trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng ngày 24/10/2020 nên ông K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Cũng như, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự: “...Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết...mà bên đượng sự đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh...”. Viện dẫn theo điều luật trên, từ khi Tòa án thụ lý đến khi xét xử đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông K, nhưng ông K không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ đối với yêu cầu của Công ty nên ông K phải chịu thiệt hại về sự vắng mặt của mình. Do đó, chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần Sawad T về việc buộc ông K trả cho Công ty số tiền 16.959.790 đồng.
[3] Đối với yêu cầu của Công ty cổ phần Sawad T về tính lãi từ ngày 25/4/2022 dl đến ngày 09/7/2024 dl, trên số tiền 16.959.790 đồng x lãi trong hạn 1,1% x 14 tháng = 2.611.808 đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày 25/4/2022 đến ngày 09/7/2024 lag 26 tháng 14 ngày x 1,65% = 7.406.340 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, việc tính lãi của Công ty không vượt quá quy định nên được chấp nhận.
Từ các căn cứ trên, buộc ông K trả cho Công ty cổ phần Sawad T tổng số tiền 26.987.000 đồng. Trong đó tiền gốc số tiền 16.959.790 đồng, lãi trong hạn số tiền 2.611.808 đồng, lãi quá hạn số tiền 7.406.340 đồng
[4] Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 69F1-559.21 tên Trần Hoàng K, Công ty đang giữ của ông K. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại phiên tòa đại diên Công ty đồng ý trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 69F1-559.21 cho ông K, nên buộc Công ty trả cho ông K giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 69F1-559.21 tên Trần Hoàng K.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Theo qui đinh “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”. Do đó, ông K phải chịu án phí số tiền 1.348.900 đồng (26.978.000 đồng x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sawad T.
- Buộc ông Trần Hoàng K trả lại cho Công ty cổ phần Sawad T tổng số tiền 26.978.000 đồng (hai mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của đại diện Công ty cổ phần Sawad T cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, thì hàng tháng ông Trần Hoàng K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Buộc công ty cổ phần Sawad T có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Hoàng K giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 69F1-559.21.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty cổ phần Sawad T không phải chịu. Hoàn trả lại cho Công ty số tiền 1.759.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn đồng) đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0001425 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
Ông Nguyễn Hoàng K phải chịu 1.348.900 đồng (một triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm đồng). Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Giang Nam |
Bản án số 255/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 255/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay. 1. Buộc ông Trần Hoàng Kha trả lại cho Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay tổng số tiền 26.978.000 đồng (hai mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của đại diện Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, thì hàng tháng ông Trần Hoàng Kha còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. 2. Buộc công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Hoàng Kha giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 69F1-559.21. 3. Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay không phải chịu. Hoàn trả lại cho Công ty số tiền 1.759.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn đồng) đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0001425 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi. Ông Nguyễn Hoàng Kha phải chịu 1.348.900 đồng (một triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm đồng). Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi. 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
