|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 255/2024/HS-ST Ngày: 16/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Thanh Nhã |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Vũ Thị Cự |
| Bà Phạm Thị Hồng Nhung |
(Bà Phạm Thị Hồng Nhung là Giáo viên)
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Ngô Minh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Phạm Văn K, sinh năm 1982; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn V, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: đội G, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Hoàng Thị T; có vợ và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 10/02/2020 bị Công an quận Đ xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2); có mặt.
2. Bùi Xuân T1, sinh năm 1990; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T2 và bà Nguyễn Thị L; có vợ và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án hình sự số 97/2019/HSST ngày 19/4/2019, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 22 tháng tù về các tội “Tổ chức đánh bạc”, “Đánh bạc”; đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2); có mặt.
3. Lưu Trọng B, sinh năm 1986; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn M và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/3/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2); có mặt.
4. Nguyễn Văn L1, sinh năm 1984; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: thôn T, xã L, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T3 và bà Phan Thị L2; có vợ và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2012 bị Công an thị trấn V xử phạt 3.500.000 đồng về hành vi tàng trữ dao, kiếm; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2); có mặt.
5. Phạm Ngọc K1, sinh năm 1990; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn B, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Phạm Ngọc K2 và bà Chử Thị Thu P; có vợ và có 01 con; tiền sự: không; tiền án: Bản án hình sự số 172/2015/HSST ngày 31/12/2015, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2); có mặt.
6. Trần Văn T4, sinh năm 1991; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn Y, xã L, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân Đ và bà Phạm Thị T5; có vợ và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án hình sự số 157/2018/HSPT ngày 27/3/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/3/2023 đến nay; có mặt.
7. Vũ Minh H, sinh năm 1999; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Mạnh T6 và bà Nguyễn Thị Hải N1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2); có mặt.
8. Nguyễn Văn L3, sinh năm 1996; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn C, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn P1 và bà Nguyễn Thị V; đã ly hôn và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/3/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2); có mặt.
9. Phạm Tuấn Q, sinh ngày 29/7/2005; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn V, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tuấn Q1 và bà Trần Thị A; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2); có mặt.
10. Nguyễn Quốc H1, sinh năm 2000; giới tính: nam; ĐKHKTT: thon Cổ Điển A, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân C1 và bà Phạm Thị T7; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2); có mặt.
11. Đinh Văn Đ1, sinh năm 1998; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn C, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Đinh Thị M1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2); có mặt.
12. Tạ Chung K3, sinh ngày 13/12/2007; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn N, xã L, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn Đ2 và bà Vũ Thị Hải A1; vợ, con; chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2023 đến nay (Trại tạm giam số 2) có mặt.
Đại diện hợp pháp của bị cáo K3: Bà Vũ Thị Hải A1, sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn N, xã L, huyện T, Thành phố Hà Nội; có mặt.
Người bào chữa:
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn K, Đinh Văn Đ1: Luật sư Hoàng Ngọc Thanh B1 thuộc Văn phòng L7; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc K1, Trần Văn T4, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc H1: Luật sư Trịnh Văn T8, Luật sư Nguyễn Thị Minh K4 thuộc Công ty L8; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L3, Vũ Minh H, Lưu Trọng B, Bùi Xuân T1: Luật sư Vũ Tuấn L4, Luật sư Nguyễn Thị L5 thuộc Công ty L8; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Tuấn Q: Ông Vũ Hồng H2 – Trợ giúp viên Pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà Nước Thành phố H; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Tạ Chung K3: Bà Nguyễn Thị L6 – Trợ giúp viên Pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H; có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9/2022, thông qua các mối quan hệ xã hội nên Phạm Văn K quen biết anh Nguyễn Văn H3. Đến tháng 01/2023, Văn K biết anh H3 không về quê ăn tết nên rủ anh H3 về nhà Văn K5 ở cùng để sau tết sẽ mở quán cà phê làm ăn chung, anh H3 đồng ý. Ngày 22/01/2023, Văn K5 đưa cho anh H3 số tiền 200.000.000 đồng nhờ cầm hộ nhưng buổi tối cùng ngày, anh H3 đã bỏ đi. Sau đó, Văn K5 nhiều lần liên hệ để đòi tiền nhưng anh H3 vẫn chưa trả. Chiều ngày 03/02/2023, anh H3 gọi điện thoại cho Văn K5 hẹn gặp tại khu vực chùa V1 ở đường N, xã N, huyện T, Hà Nội để nói chuyện về việc trả tiền. Sau khi nhận điện thoại của anh H3 xong, Văn K5 gọi điện thoại cho nhóm bạn xã hội là Bùi Xuân T1, Lưu Trọng B, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn C2 rủ đến quán C4 ở thôn T, xã L, huyện T, Hà Nội bàn về việc đánh anh H3 để bắt phải trả tiền thì T1, B, C2 đồng ý; còn L1 có việc gia đình nên nói sẽ đến sau. Sau đó, B rủ thêm bạn là Trần Văn T4; T1 rủ thêm nhóm bạn là Phạm Ngọc K1, Phạm Tuấn Q, Nguyễn Quốc H1 và Vũ Minh H. K1 được T1 rủ nên đã rủ thêm Nguyễn Văn L3 và Đinh Văn Đ1. Q đã rủ thêm Tạ Chung K3 đi cùng đến quán C4.
Khoảng 20h00 cùng ngày 03/02/2023, Văn K5 cùng T1, B, T4, H, Q, K1, H1, Chung K3, L3, Đ1 và Cường tập trung tại quán C4 ở thôn T, xã L, huyện T để bàn việc đi đòi tiền cho Văn K5. Tại đây, Văn K5 nói cho cả nhóm biết về việc H3 cầm 200.000.000 đồng của K5 rồi bỏ trốn; đã đòi nhiều lần nhưng không trả, nên nhờ cả nhóm cùng đi gặp H3 để đòi tiền thì tất cả đều đồng ý. Văn K5 bảo B chuẩn bị khẩu trang cho các đối tượng đeo để tránh bị người dân phát hiện và đưa cho Q 150.000 đồng để đi mua thân cây mía làm hung khí đánh anh H3. Q điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh (không rõ biển kiểm soát) chở Chung K3 đi đến cổng Trung tâm giáo dục thường xuyên ở xã Đ, huyện T, Hà Nội để mua mía và chặt thành các đoạn ngắn dài khoảng 80cm. Cùng lúc này, L3 điều khiển xe ô tô hiệu KIA K3 màu trắng, biển kiểm soát 30K-059.94 chở Được, Văn K5 và K1; C2 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave (không rõ biển kiểm soát) chở T4; B điều khiển xe mô tô hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 29M1-710.31; H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu xám (chưa đăng ký biển kiểm soát); do trời mưa to nên H1, T1 không nhớ được ai chở đi, cả nhóm di chuyển về hướng xã T tìm anh H3. Khi đến khu vực chùa V2 ở xã N, huyện T, Hà Nội thì xe ô tô do L3 điều khiển gặp xe mô tô của Q và C3 K5 đi mua mía về nên dừng lại. Q và Chung K3 để bó mía vào trong cốp xe ô tô. Thấy xe ô tô dừng nên T1 lên xe ô tô ngồi cùng Văn K5; còn K1 xuống đi xe máy cùng B. Cùng lúc này, L1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 29M1-940.31 đến tập trung cùng cả nhóm. Khi tất cả đi đến cổng chùa V1 thì dừng lại, Văn K5 chỉ đạo người trong nhóm lấy các thanh mía làm hung khí rồi nói “Mỗi người đứng ra một chỗ, không cho nó thoát”, mục đích bảo cả nhóm đứng tản ra các đầu đường để chờ, bao vây anh H3. Khoảng 05 phút sau, Văn K5 thấy anh H3 điều khiển xe máy hiệu Yamaha sirius màu xanh (không rõ biển kiểm soát) đi đến nên hô to “Nó kia rồi” để cả bọn đuổi theo. Anh H3 thấy đông người vây quanh nên sợ, bỏ xe mô tô lại, chạy bộ đến trước cửa quán P2 trên đường N, xã T, huyện T, Hà Nội thì bị T4 và B đuổi kịp và đè nằm xuống đất. K1 cùng H1, Chung K3, Q và H đuổi đến nơi, mỗi người cầm 01 thanh mía liên tục đánh vào người anh H3; Văn K5 dùng chân đạp 01 phát vào người; T1 dùng tay đấm 01 phát vào mặt anh H3; còn C2 và L1 đứng cạnh hỗ trợ. Sau khi cả bọn bắt được anh H3, L1 nói “Cho nó lên xe” thì L3 điều khiển xe ô tô chở Được tiến đến để Văn K5 cùng đồng bọn kéo anh H3 lên xe. Theo chỉ đạo của Văn K5, L3 điều khiển xe ô tô; Được ngồi ở ghế phụ, còn T1 cùng anh H3 và H ngồi ở hàng ghế sau. Văn K5 điều khiển xe mô tô của anh H3 cùng cả nhóm đi về nhà Văn Kiên tại đội 7, xã N, huyện T, Hà Nội. Trên đường đi, T1 dùng tay tát vào mặt anh H3 và nói “Mày tiêu hết tiền của bố mày chưa”, thì anh H3 xin “Để em gọi người nhà trả tiền”. Khi đến nơi, Văn K5 cùng T1, B, H và T4 đưa anh H3 vào trong nhà còn L3, Đ1, K1, L1, H1, C2, Q, Chung K3 đi về. Khi đi vào trong nhà, Văn K5 tát 01 phát và chửi anh H3 “Đ. mẹ mày, tao đối xử với mày thế nào mà mày cầm tiền của tao bỏ đi”. Anh H3 quỳ xuống xin lỗi và nói "Em sai rồi, anh tha cho em, có gì em sẽ trả lại tiền cho anh". Văn K5 lấy giấy, bút rồi đọc cho anh H3 viết “Giấy nhận tiền” với nội dung ngày 22/01/2023, anh H3 đã nhận 200.000.000 đồng của Văn K5, hẹn đến ngày 02/02/2023 sẽ trả lại. Sau khi anh H3 viết xong, Văn K5 giữ giấy nhận nợ rồi cho anh H3 lấy xe mô tô để đi về.
Buổi tối ngày 03/02/2023, khi thấy sự việc nhóm của Phạm Văn K đánh anh Nguyễn Văn H3 dọc khu vực đường N, xã T, huyện T, Hà Nội gây mất an ninh trật tự, người dân sinh sống tại khu vực trên đã đến Công an xã T, huyện T, Hà Nội trình báo sự việc.
Sau khi xảy ra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng. Kết quả như sau:
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án hồi 22h30 phút ngày 03/02/2023, thể hiện:
“... Hiện trường xảy ra vụ việc là tại mặt đường N thuộc địa phận xã T, huyện T, Hà Nội. Hiện trường bắt đầu từ đầu đường N chạy dài bên phần đường hướng đi Trần Thủ Độ.
Tại mặt đường Nguyễn Bặc, sát mép vạch sơn kẻ đường dành cho người đi bộ, cách mép đường bên phải theo chiều đi đường T là vị trí đôi dép nhựa màu đen, có quai viền ngoài màu trắng, mặt trên quai dép có chữ Lacoste màu trắng.
Cách vị trí đôi dép trên 34m về phía hướng đi đường T, cách mép đường bên phải theo chiều trên là 01m33 là vị trí đoạn mía màu vàng dài 95cm bị dập nát một đầu. Cách vị trí đoạn mía trên 2m90 về phía hướng đi đường T, cách mép đường bên phải theo chiều trên là vị trí đoạn mía màu vàng dài 71cm nổi trên mặt vũng nước.
Cách vị trí dài đoạn mía dài 71cm trên về phía hướng đi đường T, cách mép đường bên phải theo chiều trên 2m50 là vị trí đám bã mía dập nát, các mảnh nhựa vỡ và vải mũ bảo hiểm màu đen có kích thước (3,3x2,2)m.
Cách vị trí đám bã mía và nhựa vỡ trên 3m60 về phía hướng đường đi Trần Thủ Đ3, trên vỉa hè để lại 02 đoạn mía dài lần lượt là 38cm và 46cm. Ngoài ra không phát hiện dấu vết, đồ vật, tài liệu gì khác”.
Quá trình khám nghiệm hiện trường và điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ vật chứng vụ án gồm:
- Thu giữ tại hiện trường: 01 đôi dép nhựa màu đen, có quai viền ngoài màu trắng, mặt trên quai dép có chữ Lacoste màu trắng; 01 đoạn mía màu vàng dài 95cm bị dập nát một đầu; 01 đoạn mía màu vàng dài 71cm; 01 đoạn mía màu vàng dài 38cm; 01 đoạn mía màu vàng dài 46cm; các mảnh nhựa, vải màu đen.
- Thu giữ của Nguyễn Văn L3: 01 chiếc xe ô tô hiệu KIA-K3 màu trắng, biển kiểm soát 30K-059.94, số máy G4NANH503574, số khung RNYFL4FA6NC277490.
- - Đối với giấy nhận nợ mà Phạm Văn K ép anh H3 viết ngày 03/2/2023, Văn K khai nhận là người cầm và cất giữ nhưng hiện đã làm mất tờ giấy trên, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được.
- - Đối với anh Nguyễn Văn H3 là bị hại trong vụ án, kết quả điều tra xác định sau khi bị Phạm Văn K cùng đồng phạm đánh, bắt giữ ép viết giấy vay tiền để đòi nợ, anh H3 vắng mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập anh H3 đến lấy lời khai nhưng chưa được, nên chưa làm rõ được yêu cầu, đề nghị về trách nhiệm dân sự của anh H3. Cơ quan điều tra đã tách hành vi H3 chiếm đoạt tiền của Văn K để tiếp tục điều tra làm rõ.
- - Đối với chiếc xe ô tô hiệu KIA-K3, biển kiểm soát 30K-059.94 tạm giữ của Nguyễn Văn L3, kết quả điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn P1 (sinh năm 1969; trú tại thôn C, xã V, huyện T, Hà Nội; là bố của L3). Ngày 03/2/2023, ông P1 cho L3 mượn xe ô tô để sử dụng và không biết L3 dùng xe chở đồng bọn đi phạm tội. Do đó ngày 24/3/2023, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe ô tô trên cho ông P1.
- - Đối với Nguyễn Văn C2, đã bị Cơ quan điều tra khởi tố bị can về tội Cướp tài sản và tội Bắt, giữ người trái pháp luật nhưng đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Cơ quan điều tra đã quyết định truy nã đối với C2 nhưng chưa bắt được. Ngày 03/01/2024, Cơ quan điều tra đã quyết định tách vụ án hình sự và quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với C2 về tội về tội Cướp tài sản và tội Bắt, giữ người trái pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 43/CT-VKSHN-P2 ngày 25/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Phạm Văn K, Bùi Xuân T1, Lưu Trọng B, Nguyễn Văn L1, Phạm Ngọc K1, Trần Văn T4, Vũ Minh H, Nguyễn Văn L3, Phạm Tuấn Q, Nguyễn Quốc H1, Đinh Văn Đ1 về các tội “Cướp tài sản”, “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm a khoản 3 Điều 168, điểm a khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Tạ Chung K3 về tội “Cướp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng quy kết. Một số bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét Nguyễn Văn H3 là người chiếm đoạt tiền của Phạm Văn K, mục đích các bị đánh bị hại là để đòi tiền, không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, bị hại là người có lỗi trước.
- - Đại diện hợp pháp của Tạ Chung K3 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi phạm tội bị cáo chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đại diện viện kiểm sát đề nghị:
+ Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 168; điểm a khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo (trừ bị cáo Phạm Tuấn Q, Tạ Chung K3). Áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Phạm Ngọc K1.
Xử phạt Phạm Văn K từ 11 đến 12 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt Bùi Xuân T1 từ 10 đến 11 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt Lưu Trọng B từ 08 đến 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt Nguyễn Văn L1 từ 08 đến 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt Phạm Ngọc K1 từ 10 đến 11 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt Trần Văn T4 từ 08 đến 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt Vũ Minh H từ 08 đến 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt Nguyễn Văn L3 từ 07 đến 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt Nguyễn Quốc H1 từ 08 đến 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt Đinh Văn Đ1 từ 07 đến 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
+ Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 168; điểm a khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58; Điều 101; Điều 103 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Tuấn Q từ 05 đến 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
+ Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Tạ Chung K3 từ 03 đến 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
+ Tổng hợp hình phạt buộc các bị cáo phạm 02 tội phải chấp hành hình phạt chung.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn K, Đinh Văn Đ1:
Quá trình điều tra không thu giữ được giấy nhận nợ do anh H3 viết, quá trình điều tra chưa lấy được lời khai, tại phiên tòa vắng mặt anh H3 nên chưa đủ căn cứ kết luận các bị cáo phạm tội “Cướp tài sản”.
Bị cáo Phạm Văn K chỉ rủ Lưu Trọng B và Bùi Xuân T1; các bị cáo khác không phải do Văn K rủ đến, hành vi của họ là nằm ngoài dự kiến của bị cáo Văn K; do hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên các bị cáo mới có hành vi vi phạm pháp luật.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
- Người bào chữa cho Bùi Xuân T1, Lưu Trọng B, Nguyễn Văn L3, Vũ Minh H:
Quá trình điều tra không thu được giấy nhận nợ do anh H3 viết, chưa lấy được lời khai cũng như tại phiên tòa vắng mặt anh H3 nên không thể xác định được số tiền các bị cáo định chiếm đoạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tội danh “Cướp tài sản”.
Quá trình điều tra và tại phiền tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, năn năn hối cải, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có thân nhân là người có công với cách mạng. Người bị hại cũng có lỗi. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc K1, Trần Văn T4, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc H1:
Nguyên nhân xảy ra vụ án thì bị hại là người có lỗi, nhận thức pháp luật của các bị cáo có phần hạn chế nên phạm tội. Các bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản nên chưa gây thiệt hại. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Tuấn Q:
Hành vi bắt giữ anh H3 mang tính bột phát, không có sự bàn bạc, lên kế hoạch từ trước. Các bị cáo bị truy tố với tình tiết tăng nặng định khung “Phạm tội có tổ chức” là chưa phù hợp.
Khi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức còn hạn chế, bị cáo phạm tội do bị người khác lôi kéo, bị cáo không được hưởng lợi gì.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội để xử phạt bị cáo mức hình phạt khoan hồng.
- Người bào chữa cho bị cáo Tạ Chung K3:
Chung K3 không biết việc bị hại chiếm đoạt tiền của Văn K, không biết múc đích các bị cáo đánh bị hại để đòi tiền nên chưa đủ căn cứ truy tố bị cáo Chung K về tội “Cướp tài sản”.
Trường hợp Hội đồng xét xử quy kết bị cáo phạm tội, đề nghị xem xét bị cáo phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, đã thành khẩn khai báo để xử phạt mức hình phạt khoan hồng nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ người tham gia tố tụng. Ngày 06/5/2024 Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa do bị hại vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay bị hại tiếp tục vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của anh Nguyễn Văn H3 không cản trở việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Về trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng quy kết; lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có để cơ sở xác định:
Do anh Nguyễn Văn H3 có cầm 200.000.000 đồng của Phạm Văn K, K đòi nhưng anh H3 chưa trả. Khoảng 20h00 ngày 03/02/2023, Phạm Văn K rủ Bùi Xuân T1, Lưu Trọng B, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn C2 đến gặp nhau tại quán C4 ở thôn T, xã L, huyện T, Hà Nội để bàn việc đánh anh H3, đòi lại 200.000.000 đồng. B rủ thêm Trần Văn T4; L1 rủ thêm Vũ Minh H; T1 rủ thêm Phạm Ngọc K1, Phạm Tuấn Q và Nguyễn Quốc H1; K1 rủ thêm Nguyễn Văn L3 và Đinh Văn Đ1; Q rủ thêm Tạ Chung K3 rồi cùng nhau đến quán C4 gặp K3. Tại đây, Văn K nhờ tất cả cùng đi tìm đánh anh H3 để đòi tiền cho K. Sau đó, Văn K bảo B chuẩn bị khẩu trang cho các đối tượng đeo để tránh bị phát hiện và đưa tiền cho Q đi mua mía để làm hung khí đánh anh H3. Tại khu vực chùa V1 ở đường N, xã N, huyện T, Hà Nội, các đối tượng chia nhau các thanh mía rồi đứng tản ra các ngả đường chờ anh H3. Khi thấy anh H3 xuất hiện, Văn K hô to để báo cho mọi người biết rồi cùng cả nhóm đuổi theo anh H3. Anh H3 chạy bộ đến trước cửa quán P2 thì bị nhóm của Văn K bắt được. T4 và B đè anh H3 xuống mặt đất; K1, H1, Chung K3, Q và H mỗi người dùng 01 thanh mía liên tục đánh vào người anh H3; Văn K dùng chân đạp 01 phát vào người anh H3 còn C2, T1 và L1 đứng cạnh hỗ trợ. Sau đó, cả bọn ép anh H3 lên xe ô tô KIA-K3 biển kiểm soát 30K-059.94 do L3 điều khiển, Được ngồi ghế phụ rồi cùng đưa về nhà Văn Kiên tại đội 7, xã N, huyện T, Hà Nội. Lúc này, chỉ còn B, Văn K, T1, H và T4 ở lại nhà Văn Kiên. Văn Kiên chửi, tát anh H3 đòi tiền rồi đọc cho anh H3 viết giấy nhận tiền với nội dung xác nhận ngày 22/01/2023 anh H3 đã nhận 200.000.000 đồng của Văn K, hẹn đến ngày 02/02/2023 sẽ trả lại Văn K. Khi anh H3 viết xong giấy nhận nợ đưa cho Văn K thì Văn K mới thả cho anh H3 ra về.
Quá trình điều tra không thu giữ được “Giấy nhận tiền” do anh Nguyễn Văn H3 viết. Tuy nhiên, Phạm Văn K6 đã tự viết lại nội dung giấy nhận tiền mà các bị cáo ép anh H3 viết, trong đó có nội dung anh H3 nhận nợ Văn Kiên 200.000.000 đồng và hẹn đến 02/02/2023 sẽ trả, nội dung này phù hợp với lời khai của các bị cáo về việc các bị cáo bàn bạc đánh anh H3 để đòi nợ 200.000.000 đồng tại quán C4.
Quá trình điều tra, các bị cáo được cho nhận dạng anh Nguyễn Văn H3. Kết quả xác minh tại địa phương nơi anh H3 cư trú xác định thông tin nhân thân của anh H3 phù hợp với nội dung các bị cáo được nhận dạng.
Vì vậy, với hành vi sử dụng vũ lực nhằm chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn H3 số tiền 200.000.000 đồng, các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố về tội “Cướp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có tụ tập, bàn bạc với nhau; Phạm Văn K chỉ đạo Lưu Trọng B chuẩn bị khẩu trang, Phạm Tuấn Q mua mía làm hung khí. Tuy nhiên, các bị cáo chỉ bàn bạc về việc chuẩn bị hung khí, chặn đánh bị hại để đòi nợ; việc phân công nhiệm vụ, sự câu kết giữa các bị cáo còn mang tính giản đơn; do có người dân can ngăn không cho các bị cáo tiếp tục đánh bị hại nên mới phát sinh việc các bị cáo bắt bị hại về giữ tại nhà Văn Kiên, sự việc bắt giữ bị hại nằm ngoài dự kiến ban đầu. Với các căn cứ nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo (trừ Tạ Chung K3) về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” là hoàn toàn có căn cứ nhưng việc truy tố các bị cáo với tình tiết tăng nặng định khung “Phạm tội có tổ chức” theo điểm a khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự là quá nghiêm khắc. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, Tạ Chung K3 15 năm 01 tháng 27 ngày tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, quyền tự do thân thể của người khác, gây mất trật tự xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân. Các bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng mới đủ sức giáo dục, răn đe cũng như mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm trong tình hình hiện nay.
Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, trong đồng phạm thì Phạm Văn K là người chủ mưu nên có vai trò cao nhất trong vụ án; các bị cáo Bùi Xuân T1, Lưu Trọng B, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Ngọc K7, Trần Văn T4, Vũ Minh H, Nguyễn Quốc H1 đều tích cực tham gia tấn công, bắt giữ anh Nguyễn Văn H3 nên có vai trò ngang nhau và cao hơn các bị cáo khác; các bị cáo Phạm Tuấn Q, Tạ Chung K3 có tham gia trong toàn bộ quá trình phạm tội nhưng khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên có vai trò thấp hơn các bị cáo trên; các bị cáo Nguyễn Văn L3, Đinh Văn Đ1 không có hành vi tấn công bị hại nên có vai trò thấp nhất trong vụ án.
Bị cáo Phạm Ngọc K1 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng.
Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để làm sáng tỏ vụ án; các bị cáo Lưu Trọng B, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Minh H4, Nguyễn Văn L3, Phạm Tuấn Q, Nguyễn Quốc H1, Đinh Văn Đ1, Tạ Chung K3 có nhân thân tốt; các bị cáo Nguyễn Minh H4, Nguyễn Văn L1, Phạm Tuấn Q, Phạm Ngọc K1 có thân nhân là người có công với cách mạng; các bị cáo Bùi Xuân T1, Vũ Minh H đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các cáo Phạm Tuấn Q, Tạ Chung K3 khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt.
Trong vụ án, hành vi của anh Nguyễn Minh H5 có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản của bị cáo Phạm Văn K. Với nhận thức pháp luật có phần hạn chế, các bị cáo cho rằng việc sử dụng vũ lực với bị hại là nhằm đòi lại tài sản, không phải là chiếm đoạt tài sản của người khác, đây là nguyên nhân chính dẫn đến các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Với động cơ, mục đích và các tình tiết giảm nhẹ như trên, cùng với thực tế các bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản, ngay sau khi anh Nguyễn Văn H3 ký giấy xác nhận nợ, các bị cáo đã để bị hại đi về, không có bất kỳ hành vi gì nhằm thúc ép để lấy tài sản ngay. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy nên xử phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người có nhận thức pháp luật còn hạn chế và đã biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.
Trong vụ án còn có Nguyễn Văn C2 bị Cơ quan điều tra khởi tố về tội “Cướp tài sản”, tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Hiện C2 đang bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã. Ngày 03/10/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với C2 là có căn cứ.
Về hành vi của Nguyễn Văn H3 có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập nhiều lần nhưng chưa lấy được lời khai. Cơ quan điều tra đã tách hành vi của H3 để tiếp tục điều tra, làm rõ là phù hợp.
[3] Về trách nhiệm dân sự.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhiều lần xác minh, triệu tập nhưng chưa lấy được lời khai của anh Nguyễn Minh H5. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H5 đến phiên tòa nhưng đều vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tách phần trách nhiệm dân sự để giải quyết bằng vụ án khác nếu anh H5 có yêu cầu.
[4]Về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Đối với 01 đôi dép và 04 đoạn mía thu giữ tại hiện trường. Các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 áo khoác của Trần Văn T4 không liên quan đến tội phạm nên được trả lại.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn K, Bùi Xuân T1, Lưu Trọng B, Nguyễn Văn L1, Phạm Ngọc K1, Trần Văn T4, Vũ Minh H, Nguyễn Văn L3, Phạm Tuấn Q, Nguyễn Quốc H1, Đinh Văn Đ1 phạm các tội “Cướp tài sản”, “Bắt, giữ người trái pháp luật”; bị cáo Tạ Chung K3 phạm tội “Cướp tài sản”.
2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 168; khoản 1 Điều 157; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn K, Bùi Xuân T1, Lưu Trọng B, Nguyễn Văn L1, Phạm Ngọc K1, Trần Văn T4, Vũ Minh H, Nguyễn Văn L3, Phạm Tuấn Q, Nguyễn Quốc H1, Đinh Văn Đ1. Áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lưu Trọng B, Phạm Ngọc K1, Bùi Xuân T1, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Minh H4, Nguyễn Văn L3, Phạm Tuấn Q, Nguyễn Quốc H1, Đinh Văn Đ1, Tạ Chung K3. Áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Phạm Ngọc K1. Áp dụng Điều 101; Điều 103 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Tuấn Q.
Xử phạt Phạm Văn K 10 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 18 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 11 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2023.
Xử phạt Bùi Xuân T1 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 12 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2023.
Xử phạt Lưu Trọng B 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, 12 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/3/2023.
Xử phạt Nguyễn Văn L1 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, 12 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2023.
Xử phạt Phạm Ngọc K1 08 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, 12 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/3/2023.
Xử phạt Trần Văn T4 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 12 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/3/2023.
Xử phạt Vũ Minh H 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, 12 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2023.
Xử phạt Nguyễn Văn L3 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 12 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/3/2023.
Xử phạt Phạm Tuấn Q 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 09 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2023.
Xử phạt Nguyễn Quốc H1 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, 12 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2023.
Xử phạt Đinh Văn Đ1 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 12 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2023.
3. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 168; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Tạ Chung K3 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2023.
4. Áp dụng Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tách vấn đề dân sự trong vụ án, dành cho anh Nguyễn Minh H5 quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
5. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố Tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhầu mầu đen; 04 đoạn mía mầu vàng.
Trả lại Trần Văn T4 01 áo khoác mầu xanh có chữ Lacoste.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an Thành phố H và Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội ngày 07/3/2024)
Buộc Phạm Văn K, Bùi Xuân T1, Lưu Trọng B, Nguyễn Văn L1, Phạm Ngọc K1, Trần Văn T4, Vũ Minh H, Nguyễn Văn L3, Phạm Tuấn Q, Nguyễn Quốc H1, Đinh Văn Đ1 mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tạ Chung K3 được miễn án phí.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Nhã |
Bản án số 255/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp tài sản và bắt, giữ người trái pháp luật
- Số bản án: 255/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản và Bắt, giữ người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn K và đồng phạm Cướp tài sản
