|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số : 255/2025/HSST Ngày : 11/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
2/ Ông Nguyễn Đình Thức;
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyên Khôi là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Khổng Sơn Tùng – Kiểm sát viên;
Vào các ngày 06 và 11 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 (Cơ sở 1) - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 199/2025/HSST ngày 13 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 343/2025/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: ĐỖ ANH K; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: F8/37, Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã V, Thành phố Hồ Chí Minh); Chỗ ở: B P, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đỗ Trấn P và bà Nguyễn Thị Hương T; Nhân thân: Ngày ngày 26/9/2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 291/2024/HSST, chưa chấp hành hình phạt (Bút lục số 512 đến 516), tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 90/2021/HSST ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo Đỗ Anh K phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 08 năm tù; Tiền án: Ngày 24/10/2020, Đỗ Anh K có hành vi “Cướp giật tài sản” đến ngày 22/4/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản”, thời gian thử thách 05 năm, theo bản án số 90/2021/HSST, chưa chấp hành xong hình phạt (Bút lục số 367 đến 382); Tiền sự: Ngày 13/7/2023, bị Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, cất giấu vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ" theo quyết định xử phạt hành chính số 833/QĐ-XPVPHC, đã đóng phạt ngày 18/7/2023; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Phú Thọ H (khu vực quận T);
- Họ và tên: TRẦN DU T1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2001 tại tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: 53/57/1 Đường số D, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Thanh H1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Ngọc Phương T2 (đã chết); Nhân thân: Ngày 29/4/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 96/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 27/9/2022, đã đóng án phí ngày 29/3/2022 (bút lục số 502, 508, 512); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Phú Thọ H (khu vực quận T);
- Họ và tên: NGUYỄN VĂN T3; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990 tại tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nơi đăng ký thường trú: Khu A, ấp N, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là xã H, tỉnh Cà Mau); Chỗ ở: C T, ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã V, Thành phố Hồ Chí Minh); Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Sửa chữa, mua bán điện thoại di động; Con ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị Bé B, sinh năm 1955; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
- Anh Phan Hữu T4, sinh năm 2002; địa chỉ: 1 Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu;
- Anh Hoàng Minh Đ, sinh năm 1996; địa chỉ: G N, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
(vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Do không có tiền tiêu xài, Đỗ Anh K và Trần Du T1 nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản để có tiền tiêu xài. Sau đó, Đỗ Anh K và Trần Du T1 đã thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản tài cụ thể như sau:
* Vụ thứ nhất:
Khoảng 08 giờ, ngày 18/12/2023, Trần Du T1 gặp Đỗ Anh K tại số B P, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, tại đây, cả hai đã bàn bạc đi cướp giật tài sản. Sau đó, K đưa xe máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh - đen, biển số 50Y1 – 889.79 cho T1 điều khiển, chở K qua nhiều tuyến đường để người có tài sản sơ hở để cướp giật. Khi đi đến đường T, phường T, quận T, thì T1 và K nhìn thấy anh Phan Hữu T4 điều khiển xe máy hiệu Honda AirBlade, biển số 49K1-777.05, đang sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xám đen. Lúc này, T1 liền điều khiển xe bám theo sau xe anh T4, khi đến trước số B T, phường T, quận T, T1 tăng ga vượt xe lên, áp sát bên trái anh T4 để K ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại di động của anh T4 đang sử dụng rồi cả hai nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát.
Trên đường tẩu thoát, khi đến trước đại chỉ C P, phường P, quận T, T1 và K phát hiện người phụ nữ ngồi sau xe gắn máy của người đàn ông (không rõ biển số) đang bấm điện thoại nên T1 tiếp tục tăng ga cho xe chạy áp sát bên phải người phụ nữ để K ngồi sau dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax rồi tăng ga tẩu thoát.
Sau đó, Đỗ Anh K gọi đến số điện thoại 0908.484.xxx của Nguyễn Văn T3 để bán lại 02 điện thoại di động do Đỗ Anh K và Trần Du T1 vừa cướp giật được, thì được T3 hẹn gặp tại cánh đồng trên đường N, xã V, huyện B để lấy máy. Tại khu vực trên, K đưa 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xám đen và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax vừa cướp giật được cho T3. Mặc dù, biết đây là điện thoại do K và T1 phạm tội mà có nhưng T3 vẫn đồng ý mua 02 chiếc điện thoại di động trên với giá là 15.000.000 đồng và dùng tài khoản số 0947852528 mang tên Nguyễn Văn T3 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (M1) chuyển số tiền trên vào tài khoản số 14687971 mang tên Đỗ Anh K mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A). Sau khi nhận tiền, K sử dụng 500.000 đồng để sửa xe rồi chuyển cho Trần Du T1 số tiền 7.250.000 đồng qua tài khoản ngân hàng số 13333741 của Trần Du T1 mở tại Ngân hàng A.
Sau khi vụ việc xảy ra, ngày 24/12/2023, anh Phan Hữu T4 đến Cơ quan Cơ quan cảnh sát Công an Thành phố H trình báo về việc bị cướp giật tài sản như trên.
* Vụ thứ hai:
Khoảng 09 giờ, ngày 20/12/2023, Đỗ Anh K điều khiển xe máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh - đen, biển số 50Y1 – 889.79 đi qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản cướp giật, khi đến trước địa chỉ số A T, Ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, K nhìn thấy anh Hoàng Minh Đ, đang điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Lead, biển số 59G2-918.63, đang sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 12. Thấy vậy, K điều khiển xe gắn máy đuổi theo sau anh Đ, khi đến trước địa E T, K tăng ga, áp sát bên phải của anh Đ, dùng tay trái cướp giật điện thoại của anh Đ đang cầm trên tay trái rồi tăng ga bỏ chạy, nhưng bị anh Đ đuổi kịp. Lúc này, anh Đ chủ động cho bánh xe trước va chạm với đuôi xe của K đang điều khiển khiến K cùng xe máy ngã ra đường. Sau đó, K đã bỏ lại xe gắn máy, bỏ chạy. Khi đến trước hẻm S T thì K gọi điện cho T1 và bạn gái tên Trần Thị Diễm M nói với T1 và M là K bị té xe, xe máy đang gửi ở tiệm sửa xe nên nhờ cả hai đặt xe ôm công nghệ đến đón K thì cả hai đồng ý.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa Đỗ Anh K, Trần Du T1 và Nguyễn Văn T3 về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, K, T1 và T3 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Ngoài ra, Đỗ Anh K, Trần Du T1 còn khai nhận thực hiện các vụ án cướp giật tài sản như sau:
- Khoảng tháng 11/2023, Đỗ Anh K và Trần Du T1 đã thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản tại trước số H T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tại trước địa chỉ 1 L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và tại trước địa chỉ 47 Quốc lộ A phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua xác minh tại Công an P1, quận T; Công an phường T, quận T; Công an phường B, quận B, trong khoảng thời gian trên không có ai đến trình báo vụ việc xảy ra tại các địa chỉ trên (Bút lục số D, 486, 488).
- Ngày 06/12/2023, Đỗ Anh K và Trần Du T1 đã thực hiện 01 vụ cướp giật tài sản tại trước địa chỉ số E Tổ A, Ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua xác minh tại Công an huyện B, quận B trong khoảng thời gian trên không có ai đến trình báo vụ việc xảy ra tại địa chỉ trên (Bút lục số 489).
- Ngày 08/12/2023, Đỗ Anh K và Trần Du T1 đã thực hiện 01 vụ cướp giật tài sản tại trước địa chỉ G Kênh N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua xác minh tại Công an phường B, quận B trong khoảng thời gian trên không có ai đến trình báo vụ việc xảy ra tại địa chỉ trên. (Bút lục số 490)
- Khoảng tháng 12/2023, Đỗ Anh K và Trần Du T1 đã thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản tại trước địa chỉ G B, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tại trước số C Hồ V, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua xác minh tại Công an phường S, quận T; Công an phường T, quận B trong khoảng thời gian trên không có ai đến trình báo vụ việc xảy ra tại địa chỉ trên. (Bút lục số 491, 492)
- Ngày 18/12/2023, Đỗ Anh K và Trần Du T1 đã thực hiện 01 vụ cướp giật tài sản tại trước địa chỉ C P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua xác minh tại Công an phường P, quận T trong khoảng thời gian trên không có ai đến trình báo vụ việc xảy ra tại địa chỉ trên. (Bút lục số 494)
Đối với Nguyễn Văn T3 khai nhận từ tháng 11/2023 đến 19/12/2023, T3 mặc dù biết điện thoại di động của Đỗ Anh K và Trần Du T1 bán cho T3 là tài sản sản do K và T1 phạm tội mà có, nhưng T3 vẫn nhận tiêu thụ 15 cái điện thoại di động cụ thể như sau:
- Ngày 10/11/2023, T3 đã mua của Đỗ Anh K và Trần Du T1, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 14 Promax (A) với giá 19.500.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax (B) với giá 5.000.000 đồng. Đối với điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone 14 Promax (128Gb), T3 giữ lại để sử dụng còn điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax (256Gb), T3 đã bán cho một người khách không rõ lai lịch với giá 5.500.000 đồng hưởng lợi được 500.000 đồng. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã thu giữ của T3 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone 14 Promax (128Gb).
- Ngày 11/11/2023, T3 đã mua của Đỗ Anh K và Trần Du T1, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 (64Gb) với giá 4.000.000 đồng. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã thu giữ của T3 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone 11 (64Gb).
- Ngày 13/11/2023, T3 đã mua của Đỗ Anh K và Trần Du T1, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Promax (128Gb) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 (128Gb) với giá 12.000.000 đồng. Sau đó T3 đã bán lại các điện thoại trên cho một người khách không rõ lai lịch với giá 13.500.000 đồng, hưởng lợi 1.500.000 đồng.
- Ngày 28/11/2023, T3 đã mua của Đỗ Anh K và Trần Du T1, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax (B) với giá 4.000.000 đồng. Sau đó T3 đã bán lại cho một người khách không rõ lai lịch với giá 4.500.000 đồng, hưởng lợi 500.000 đồng.
- Ngày 29/11/2023, T3 đã mua của Đỗ Anh K và Trần Du T1, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 (128Gb) với giá 4.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 (128Gb) với giá 3.500.000 đồng. Sau đó T3 đã bán lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 (128Gb) cho một người khách không rõ lai lịch với giá 4.500.000 đồng, hưởng lợi 500.000 đồng.
- Ngày 06/12/2023, T3 đã mua của Đỗ Anh K và Trần Du T1, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 13 (128Gb) với giá 11.000.000 đồng. Sau đó T3 đã bán lại cho một người khách không rõ lai lịch với giá 11.500.000 đồng, hưởng lợi 500.000 đồng.
- Ngày 08/12/2023, T3 đã mua của Đỗ Anh K và Trần Du T1, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 14 Promax (A) với giá 23.500.000 đồng. Sau đó T3 đã bán lại cho một người khách không rõ lai lịch với giá 23.900.000 đồng, hưởng lợi 400.000 đồng.
- Ngày 11/12/2023, T3 đã mua của Đỗ Anh K và Trần Du T1, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Promax (A) với giá 10.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XSmax (64Gb) với giá 3.000.000 đồng. Sau đó T3 đã bán lại điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Promax cho một người khách không rõ lai lịch với giá 10.400.000 đồng, hưởng lợi 400.000 đồng. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã thu giữ của T3 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone XSmax (64Gb).
- Ngày 18/12/2023, T3 đã mua của Đỗ Anh K và Trần Du T1, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 14 Promax (A) với giá 12.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax (F) với giá 3.000.000 đồng. Sau đó T3 đã bán lại điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax cho một người khách không rõ lai lịch với giá 3.400.000 đồng, hưởng lợi 400.000 đồng. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã thu giữ của T3 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone 14 Promax (128Gb).
- Ngày 19/12/2023, T3 đã mua của Đỗ Anh K, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XSmax (64Gb) với giá 2.000.000 đồng. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã thu giữ của T3 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone XSmax (64Gb).
Kết luận định giá tài sản số 1025/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện B, kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, thời điểm định giá ngày 20/12/2023, trị giá 5.000.000 đồng.” (Bút lục số 237)
Kết luận định giá tài sản số 87/KL-HĐĐGTS ngày 13/01/2025 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự quận T, kết luận:
- “- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 14 Promax (128Gb), thời điểm định giá ngày 10/11/2023, trị giá 21.500.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax (256Gb), thời điểm định giá ngày 10/11/2023, trị giá 10.800.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 (64Gb), thời điểm định giá ngày 11/11/2023, trị giá 6.200.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Promax (256Gb), thời điểm định giá ngày 13/11/2023, trị giá 12.000.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax (256Gb), thời điểm định giá ngày 28/11/2023, trị giá 10.800.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 (128Gb), thời điểm định giá ngày 29/11/2023, trị giá 7.500.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 13 (128Gb), thời điểm định giá ngày 06/12/2023, trị giá 12.500.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 14 Promax (128Gb), thời điểm định giá ngày 08/12/2023, trị giá 21.500.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Promax (128Gb), thời điểm định giá ngày 11/12/2023, trị giá 12.000.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 14 Promax (128Gb), thời điểm định giá ngày 18/12/2023, trị giá 21.500.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax (64Gb), thời điểm định giá ngày 18/12/2023, trị giá 9.000.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XSmax (64Gb), thời điểm định giá ngày 19/12/2023, trị giá 7.100.000 đồng.
- Tổng cộng: 152.400.000 đồng” (Bút lục số 518, 519).
Kết luận định giá tài sản số 493/KL-HĐĐGTS ngày 17/3/2025 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự quận T, kết luận:
- “- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 (128Gb), thời điểm định giá ngày 29/11/2023, trị giá 7.500.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XSmax (64Gb), thời điểm định giá ngày 11/12/2023, trị giá 7.100.000 đồng.
- Tổng cộng: 14.600.000 đồng.” (Bút lục số 551).
* Vật chứng thu giữ:
Có bảng thống kê vật chứng kèm theo vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Phan Hữu T4 yêu cầu Đỗ Anh K và Trần Du T1 bồi thường số tiền 7.000.000 đồng (Bút lục số 243).
- Anh Hoàng Minh Đ đã nhận bồi thường 5.000.000 đồng từ Đỗ Anh K nên không có yêu cầu gì khác (Bút lục số 214, 215).
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS-KV9 ngày 10 tháng 7 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Anh K về tội “Cướp giật tài sản” theo các điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), truy tố bị cáo Trần Du T1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), truy tố bị cáo Nguyễn Văn T3 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng các điểm d, i Khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Đỗ Anh K mức án từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 291/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân và hình phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 90/2021/HSST ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, buộc Đỗ Anh K phải chấp hành hình phạt từ 13 năm đến 14 năm tù.
- Áp dụng các điểm d Khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Du T1 mức án từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù;
Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;
Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, những người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Đối với bị cáo Đỗ Anh K đã có hành vi cùng Trần Du T1 điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 50Y1-889.79, màu xanh đen thực hiện hành vi cướp giật tài sản là một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax trị giá 9.000.000 đồng của anh Phan Hữu T4 vào khoảng 08 giờ ngày 18/12/2023 tại trước nhà số B T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 09 giờ, ngày 20/12/2023, tại trước nhà số A T, Ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đỗ Anh K tiếp tục có hành vi điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 50Y1-889.79, màu xanh đen, thực hiện hành vi cướp giật tài sản là một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 12 trị giá 5.000.000 đồng của anh Hoàng Minh Đ thì bị bắt. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội danh và hình phạt được quy định tại các điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Đối với bị cáo Trần Du T1 có hành vi cùng Đỗ Anh K điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 50Y1-889.79, màu xanh đen thực hiện hành vi cướp giật tài sản là một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax trị giá 9.000.000 đồng của anh Phan Hữu T4 vào khoảng 08 giờ ngày 18/12/2023 tại trước nhà số B T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T3 trong khoảng thời gian từ ngày 18/12/2023 và ngày 20/12/2023 mặc dù biết điện thoại di động của Đỗ Anh K và Trần Du T1 bán là tài sản sản do K và T1 phạm tội mà có, nhưng T3 đã nhiều lần nhận tiêu thụ điện thoại di động với tổng trị giá tài sản là 72.400.000 đồng, đã thu lợi được 400.000 đồng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khắc phạm tội mà có”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Đối với các hành vi “Cướp giật tài sản” do Đỗ Anh K và Trần Du T1 thực hiện từ tháng 11/2023 đến tháng 12/2023 tại trước số H T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tại trước địa chỉ 1 L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và tại trước địa chỉ 47 Quốc lộ A phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua xác minh tại Công an P1, quận T; tại trước địa chỉ số E Tổ A, Ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; tại trước địa chỉ G Kênh N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; tại trước địa chỉ G B, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tại trước số C Hồ V, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trước địa chỉ C P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay chỉ có lời khai của các bị can, không có bị hại trình báo, không có chứng cứ khác chứng minh có sự việc phạm tội xảy ra nên chưa đủ cơ sở để xử lý trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã đăng tin tìm bị hại, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi tiêu thụ các điện thoại khác của Nguyễn Văn T3, ngoài lời khai của T3, Đỗ Anh K và Trần Du T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã điều tra tuy nhiên do không có bị hại đến trình báo, không thu giữ được tang vật, nên chưa đủ cơ sở để xử lý.
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng hành vi của các bị cáo mang tính tự phát, giữa các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng nên không thuộc trường hợp “phạm tội có tổ chức”;
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tuy các bị cáo chưa thành niên nhưng đủ khả năng nhận thức được các hành vi cướp giật tài sản của người khác và tiêu thụ các tài sản do người khác phạm tội mà có bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết có một hình phạt thật nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, các bị cáo Đỗ Anh K và Nguyễn Văn T3 nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội từ 02 lần trở lên” đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, ngoài ra bị cáo K đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại do đó còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 5 Điều 171 và Khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo K, T1 không có nghề nghiệp ổn định, khó có khả năng thi hành, bị cáo T3 phạm tội lần đầu nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, người bị hại – anh Phan Hữu T4 yêu cầu các bị cáo Đỗ Anh K, Trần Du T1 bồi thường cho số tiền 7.000.000 đồng là giá trị tài sản bị thiệt hại. Tại phiên toà, các bị cáo K, T1 tự nguyện chịu toàn bộ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh T4. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự thoả thuận tự nguyện của các bị cáo K, T1 và bị hại, không trái pháp luật nên ghi nhận buộc các bị cáo K, T1 có trách nhiệm bồi thường cho anh Phan Hữu T4 số tiền 7.000.000 đồng;
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, số máy 2S5-001594, số khung không có, là xe gắn máy Đỗ Anh K và Trần Du T1 sử dụng để đi cướp giật tài sản. Qua xác minh chiếc xe có nguồn gốc không rõ ràng cần giao cho Phòng thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo tìm chủ sở hữu trong một khoảng thời gian nhất định, quá thời hạn mà không có người đến nhận thì lập thủ tục sung quỹ Nhà nước;
Đối với chiếc biển số 50Y1-889.79 là của xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha do anh Trần Minh H3, cư trú tại B Ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu, làm việc với anh H3 được biết anh đang sử dụng xe gắn máy trên chưa mua bán, sang tên. Hội đồng xét xử xét thấy biển số hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 (một) áo sơ mi dài tay, kẻ ca rô màu nâu – vàng; một (01) áo thun màu đen, ngắn tay, phía trước ngực áo có ghi chữ “BALENCIAGA” màu đỏ; một (01) quần jeans dài, màu đen; một (01) áo khoác màu đen; một (01) nón bảo hiểm màu xám; một (01) quần jean dài; một (01) đôi dép. Hội đồng xét xử xét thấy đây là trang phục các bị cáo mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 (một) Iphone 11 Promax, số I: 353898107577868 thu giữ của bị cáo K; 01 (một) Iphone 11 Pro thu giữ của bị cáo T1 sử dụng để nhận tiền tiêu thụ tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Đối với 02 (hai) điện thoại Iphone 14 Promax; 01 (một) điện thoại Iphone 11; 01 (một) Iphone Xsmax màu trắng; 01 (một) Iphone Xsmax màu vàng thu giữ của bị cáo T3, là các điện thoại bị cáo có được từ việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Đối với 01 (một) Iphone Xs; 01 (một) Iphone Xsmax màu đen; 01 (một) Iphone 11 Pro; 01 (một) Iphone 12 Promax; 01 (một) Iphone 8 plus là các điện thoại di động; 01 (một) máy tính xách tay hiệu HP màu đen của thu giữ của bị cáo T3, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo T3;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 20/PKN-ĐTTH ngày 19/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T)
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo K, T1 còn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng điểm d, i Khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Đỗ Anh K 06 (sáu) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”;
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt trên với hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 90/2021/HSST ngày 22/4/2021 và hình phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 291/2024/HSST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh), buộc bị cáo Đỗ Anh K chấp hành hình phạt chung cho các bản án là 14 (mười bốn) năm tù.
Thời hạn từ tính từ ngày 26/12/2023;
* Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Trần Du T1 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023;
* Áp dụng Khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Nguyễn Văn T3 02 (hai) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
* Áp dụng Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Giao 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, số máy 2S5-001594, số khung không có cho Phòng thi hành án dân sự Khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 06 (sáu) tháng, quá thời hạn mà không có người đến nhận thì lập thủ tục sung quỹ Nhà nước;
Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) chiếc biển số 50Y1-889.79; 01 (một) áo sơ mi dài tay, kẻ ca rô màu nâu – vàng; một (01) áo thun màu đen, ngắn tay, phía trước ngực áo có ghi chữ “BALENCIAGA” màu đỏ; một (01) quần jeans dài, màu đen; một (01) áo khoác màu đen; một (01) nón bảo hiểm màu xám; một (01) quần jean dài; một (01) đôi dép;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) Iphone 11 Promax, số I: 353898107577868; 01 (một) Iphone 11 Pro; 02 (hai) điện thoại Iphone 14 Promax; 01 (một) điện thoại Iphone 11; 01 (một) Iphone Xsmax màu trắng; 01 (một) Iphone Xsmax màu vàng;
Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T3: 01 (một) Iphone Xs; 01 (một) Iphone Xsmax màu đen; 01 (một) Iphone 11 Pro; 01 (một) Iphone 12 Promax; 01 (một) Iphone 8 plus là các điện thoại di động; 01 (một) máy tính xách tay hiệu HP màu đen;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 20/PKN-ĐTTH ngày 19/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T)
Buộc các bị cáo Đỗ Anh K, Trần Du T1 liên đới có trách nhiệm bồi thường cho anh Phan Hữu T4 số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng;
Kể từ ngày các bị cáo phải thi hành trách nhiệm dân sự như nêu trên cho đến khi thi hành xong, các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Các bị cáo K, T1 phải chịu 350.000 (ba trăm năm mươi ngàn) đồng án phí Dân sự sơ thẩm;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo; các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật;
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam các bị cáo K, T1 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
Bản án số 255/2025/HSST ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 255/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Anh K và đồng phạm phạm tội "Cướp giật tài sản"
