Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2025/HS-PT
Ngày: 26/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hường
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hồng
Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 179/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ do có kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 195/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đức Hồng Đ, sinh ngày 18/12/2007 tại Hà Nội (khi phạm tội 16 tuổi 6 tháng); Nơi ĐKHHTT và chỗ ở hiện tại: Thôn T, xã S, huyện H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 10/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức H và con bà Nguyễn Thị X; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 11/10/2023, Công an huyện H ra Quyết định xử phạt hành chính, hình thức phạt: “Cảnh cáo” về hành vi gây tổn hại sức khỏe người khác; Ngày 10/11/2023, Công an huyện H ra Quyết định xử phạt hành chính, hình thức phạt: “Cảnh cáo” về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Ông Nguyễn Viết T (đã chết).

* Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Viết T:

  • Bà Trần Thị B, sinh năm 1936 (mẹ đẻ của ông T).
  • Bà Văn Thị D, sinh năm 1961 (Vợ của ông T).
  • Chị Viết Thị T1, sinh năm 1982 (con đẻ của ông T).
  • Anh Nguyễn Viết T2, sinh năm 1982 (con đẻ của ông T).
  • Chị Viết Thị M, sinh năm 1991(con đẻ của ông T).

Đều trú tại: Thôn Đ, xã S, huyện H, thành phố Hà Nội.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 (là bố mẹ đẻ)

Trú tại: Thôn T, xã S, huyện H, thành phố Hà Nội

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ: Ông Nguyễn Hoài S, bà Đỗ Như Q, bà Dương Thị T3, ông Nguyễn Tiến T4 đều là luật sư – Công ty L – Đoàn luật sư thành phố H và ông Bạch Ngọc K - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm T8, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa có mặt Ông Nguyễn Hoài S, bà Dương Thị Tuyết .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 18/06/2024, Nguyễn Đức Hồng Đ cùng Lê Thiên B1, Nguyễn Viết C (sinh ngày 22/04/2008), Nguyễn Xuân H1 (sinh ngày 11/04/2008), Nguyễn Như Hoàng T5 (sinh ngày 15/05/2008), Nguyễn Chí Đ1 (sinh ngày 17/06/2008), Nguyễn Như Hoàng V (sinh ngày 25/10/2009) và Lương Giang K1 (sinh ngày 25/11/2008) uống nước tại công viên ở thôn T, xã S, huyện H, thành phố Hà Nội. Sau khi uống nước tất cả rủ nhau đi ném bóng nước vào người đi đường để nghịch, chơi đùa. Lúc này, B1 bảo Đ là: “Để tao lái” nên Đ giao xe máy nhãn hiệu Honda BKS: 29X5 -78999, dung tích xi lanh 109,1cm² cho B1 điều khiển (Đăng biết rõ B1 chưa có giấy phép lái xe hạng A1). Sau đó, B1 điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 29X5 - 78999 chở Đ ngồi sau, T5 điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 29X5 - 859.20 chở H1 ngồi sau, V điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 29X5 - 449.46 chở C ngồi sau, và K1 điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 29X5 - 859.47 chở Đ1 ngồi sau rồi đi đến thôn R, xã S, huyện H, thành phố Hà Nội mua khoảng 10.000 đồng bóng bay tại cửa hàng tạp hóa của bà Duy Thị C1. Sau khi mua bóng bay, cả nhóm đi đến phía sau Trường tiểu học S1 thì thấy có một vòi nước của nhà bà Đặng Thị D1 cạnh đường nên đỗ xe lại, bơm nước vào khoảng 40 quả bóng chia làm 04 túi nilong to, người ngồi sau mỗi xe cầm 01 (một) túi (khoảng 10 quả bóng có chứa nước). Sau đó, cả nhóm đi từ trường tiểu học S1 ra đường tỉnh lộ 422 với mục đích khi gặp các nam thanh niên cùng tầm tuổi sẽ đuổi theo ném bóng nước. Khi đi ra mặt đường tỉnh lộ 422, xe của B1 chở Đ và xe của T5 chở H1 đi theo hướng Cát Q1 đi ngã tư S còn xe của V chở C và xe của K1 chở Đ1 thấy 03

(ba) người phụ nữ (không rõ lai lịch) đi 02 (hai) xe đạp điện đi ngang qua nên đuổi theo đến phía trước cửa hàng X1 ném bóng nước trúng vào 03 người này rồi quay xe lại đuổi theo xe của B1 và xe của T5 điều khiển. Cả nhóm điều khiển xe đi trên đường D theo hướng C đi ngã tư S, khi đi đến gần Trạm y tế xã S thì có 01 (một) xe máy chở 03 nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) đi ngược chiều, lúc này B1 hô “Anh em quay lại đuổi bọn kia” nên cả nhóm quay đầu xe lại đuổi theo (hướng Ngã tư S đi C) (trong đó xe của B1 chở Đ đi đầu tiên, xe của T5 chở H1 đi thứ hai, xe của V chở C đi thứ ba, xe của K1 chở Đ1 đi sau cùng) với tốc độ nhanh. Khi đi đến phía trước cửa đền “Quan Ông” thuộc thôn R, xã S, H, Hà Nội, xe của B1 điều khiển chở Đ và xe của T5 điều khiển chở H1 ngồi sau đuổi kịp xe của 03 nam thanh niên. Lúc này, xe của B1 và xe của T5 ném bóng nước về phía ba nam thanh niên. Ngay sau khi ném, xe của B1 chở Đ vượt sang phần đường bên trái hướng Ngã tư S đi C rồi đâm vào xe máy biển số 33M4-4291 do ông Nguyễn Viết T điều khiển đi ngược chiều theo hướng C đi ngã tư S dẫn đến xảy ra tai nạn. Sau va chạm, xe mô tô BKS: 29X5 - 78999 do B1 điều khiển chở Đ bị đổ ngã ra giữa đường, xe mô tô BKS 33M4 - 4291 do ông T điều khiển bị đổ ngã ra vỉa hè. Xe mô tô BKS: 29X5 - 449.46 do V điều khiển chở C tránh xe mô tô BKS: 29X5 - 78999 (đang ngã ra giữa đường) nhưng do tốc độ nhanh nên cũng bị ngã ra đường. Sau đó, người dân đưa ông T, Đ và B1 đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện H.

Hậu quả:

  • Ông T được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện H nhưng đã tử vong ngoại viện.
  • Nguyễn Đức Hồng Đ bị chảy máu da vết thương, xây xát căng chân hai bên, chân trái chãi, căng tay trái.
  • Lê Thiên B1 bị sưng nề bầm tím gò má trái, vết thương xây xát bầm tím vùng ngực, vết thương xây xát bàn chân hai bên, vỡ nhiều mảnh thành trước sau hàm, đụng dập mô phổi phải, hiện anh B1 đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện H.

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda 110, màu ghi, BKS: 33M4 - 4291, đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh BKS: 29X5-789.99, đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, BKS: 29X5 - 859.20 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe số 29.000151 (do Nguyễn Xuân H1 tự nguyện giao nộp).
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29X5 - 838.47 (do Lương Giang K1 tự nguyện giao nộp).
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29X5 – 449.46 (do Nguyễn Như Hoàng V tự nguyện giao nộp).
  • + 01 USB ghi lại nội dung sự việc

* Kết quả khám nghiệm hiện trường, dựng lại hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra vụ việc được xác định tại đường tỉnh lộ 422 thuộc thôn Rô, xã Sơn Đồng, Hoài Đức, Hà Nội

Đường tỉnh lộ nơi xảy ra vụ việc rộng 6,5m được dải nhựa phẳng ở giữa có vạch kẻ đường nét đứt chia đường làm hai chiều đường đi, một hướng đi Ngã tư S và một hướng đi C.

  • - Lấy cột mốc ký hiệu H8/9 làm điểm mốc
  • - Lấy mép đường bên phải làm chuẩn

Quan sát hiện trường theo hướng Cát Q1 đi Ngã tư S để tiến hành khám nghiệm:

  • Tổ hợp vết cày mài trượt diện (8,7x0,7)m đo từ điểm đầu vết cày ra mép đường phải là 1,65m, điểm cuối vết cày ra mép đường phải là 1,5m (vết cày 1).
  • - Vết máu diện (0,3x0,15)m, đo từ tâm của vết ra mép đường phải là 1,0m, đo đến điểm đầu của vết (1) là 0,55m.
  • Vết mài trượt hướng của vết Ngã tư S đi C dài 5,5m, đo từ điểm đầu của vết ra mép đường phải là 3,8m, đo đến điểm đầu vết (1) là 1,8m, điểm cuối của vết cách mép đường phải là 5,05m, cách điểm mốc là 41m.
  • Vết máu diện (0,2x0,4)m trên vỉa hè bên phải đo từ tâm vết vào mép đường phải là 0,5m, đo đến điểm cuối của vết (1) là 1,1m.

Ngày 09/08/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành dựng lại hiện trường để xác định vị trí xảy ra va chạm giữa hai phương tiện và vị trí các phương tiện sau khi xảy ra va chạm (theo sự chỉ dẫn của anh Nguyễn Đức Hồng Đ và của người làm chứng là bà Bỉnh Thị T6), xác định: Đường tỉnh lộ nơi xảy ra vụ việc được trải nhựa thẳng phẳng có chiều rộng 6,5m, trên mặt đường có vạch kẻ sơn đứt quãng màu vàng, đo từ vạch kẻ sơn vào mép đường bên phải hướng Cát Quế đi Ngã tư S là 3,25m, vỉa hè hai bên rộng 2m.

Quan sát hiện trường theo hướng Cát Q1 đi Ngã tư S để tiến hành dựng lại hiện trường xác định:

Điểm mốc: Cột mốc ký hiệu H8/9 dựng trên vỉa hè bên trái theo hướng quan sát, lấy mép đường bên phải theo hướng quan sát làm chuẩn, các số đo được đo vuông góc:

  • Trên mặt đường cách mép đường bên phải 1,4m là vị trí xảy ra va chạm giữa xe mô tô BKS: 33M4 – 4291 và xe mô tô BKS: 29X5 - 78999 (theo sự chỉ dẫn của anh Nguyễn Đức Hồng Đ).
  • Cách vị trí (1) về phía Cát Quế 4,6m là vị trí trục bánh trước xe mô tô BKS: 29X5 – 78999. Xe đổ nghiêng sang phải, đầu xe hướng mép đường bên phải đuôi xe hướng mép đường bên trái. Đo từ trục bánh trước xe ra mép đường bên phải là 0,9m. Đo từ trục bánh sau xe ra mép đường bên phải là 2,1m (theo chỉ dẫn của anh Đ, bà T6).
  • Cách vị trí số (1) về phía Ngã tư S 7,0m là vị trí trục bánh trước bên phải xe mô tô BKS: 33M4 - 4291 xe đổ nghiêng sang phải, đầu xe hướng vỉa hè bên phải (chếch hướng ngã tư S) đuôi xe hướng mép đường bên trái. Đo từ trục bánh trước xe vào mép đường bên phải là 0,2m, đo từ trục bánh sau xe ra mép đường bên phải là 0,6m (theo sự chỉ dẫn của bà Bỉnh Thị T6).
  • Cách vị trí trục bánh trước xe mô tô BKS: 29X5 – 78999 về phía Cát Quế 6,0m là vị trí trục bánh trước xe mô tô BKS: 29X5 – 44946, xe bị đổ nghiêng sang phải, đầu tư hướng Ngã tư S đuôi xe hướng Cát Quế. Đo từ trục bánh trước xe ra mép đường bên phải là 6,0m. Đo từ trục bánh sau xe ra mép đường bên phải là 5,9m (theo sự chỉ dẫn của bà Bỉnh Thị T6). Từ trục bánh sau xe mô tô đo về phía Cát Quế 37,6m là vị trí cột mốc ký hiệu H8/9.

* Kết quả khám dấu vết phương tiện:

Ngày 16/07/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành khám phương tiện đối với xe mô tô BKS: 33M4-4291 và xe mô tô BKS: 29X5-789.99.

* Xe mô tô BKS: 33M4 - 4291

  • Ốp nhựa phía trước, phía sau đầu xe, cụm đèn pha xi nhan phải trái, cụm công tơ mét nứt vỡ hư hỏng bật chốt hãm.
  • Gương chiếu hậu bên phải bật khỏi vị trí.
  • Đầu tay phanh có vết mài trượt kim loại kích thước (2x2)cm.
  • Núm đầu tay lái bên trái bị cong vặn từ sau lên trước.
  • Mặt nạ phía trước đầu xe bị bật gãy chốt hãm rời khỏi vị trí.
  • Giảm sóc trước bị cong từ phải sang trái, ống thụt bên trái giảm sóc trước tại vị trí đầu trục ốc cố định với maiơ có vết mài trượt xước kim loại kích thước (7x3)cm.
  • Vành trước bị méo móp cong gập, tâm vị trí méo móp cách chân van 24cm, theo chiều chuyển động ngược của bánh, 18 chân van bị đứt gãy, phần lốp tại đoạn cong vành bị rời khỏi vành.
  • Cần số bên trái xe bị cong ngược từ trước về sau, bàn để chân phía trước bên trái bị cong ngược từ trước về sau.
  • Ốp nhựa sườn xe bên trái bị bật gãy chốt hãm.
  • Cung chắn bùn phía trước bị vỡ bật khỏi vị trí.

* Xe ô tô BKS: 29H – 899.85

  • Ốp nhựa phía trước tay lái khu vực phía bên trái bị bật chốt hãm nứt vỡ, xước nhựa diện (18x9)cm.
  • Cụm đèn xi nhan phía trước bên trái bị vỡ bật khỏi vị trí.
  • Đầu tay phanh có vết mài trượt kim loại diện (1x2) cm.
  • Cánh yếm bên phải có vết mài trượt xước nhựa diện (8x1) cm.
  • Đầu trục ốc cố định giảm sóc trước và maiơ của xe (bên phải) có vết mài trượt kim loại kích thước (1x1)cm.
  • Đầu chắn bùn phía trước có vết mài trượt xước nhựa diện (3x2)cm.
  • Vành xe phía trước bị cong vênh móp méo từ trước về sau từ trái sang phải, tâm của vết cong cách chân van 15cm theo chiều chuyển động tiến của xe, lốp bị bật khỏi vị trí vành xe bị cong.
  • Đầu chân phanh có vết mài trượt xước kim loại kích thước (2,5x1)cm.
  • Bàn để chân phía trước bên phải bị cong gập từ trước về sau.
  • Cánh yếm bên trái bị bật chốt hãm, nứt vỡ hư hỏng hoàn toàn.
  • Cần số bị cong gập từ trước về sau.
  • Bàn để chân phía trước bên trái bị cong từ trước về sau, phần cao su bị rách, hở lõi kim loại.
  • Cụm đèn hậu bị nứt vỡ nhựa kích thước (7x3)cm.

* Kết quả định giá tài sản:

Ngày 31/07/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Yêu cầu định giá tài sản đối với phần hư hỏng của các phương tiện.

Ngày 04/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H nhận được Kết luận định giá tài sản số 396/KL-HĐĐGTS ngày 09/09/2024 của Hội đồng ĐGTS trong TTHS huyện H, kết luận:

  • Phần hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda 110 màu ghi, BKS: 33M4-4291, đã qua sử dụng từ ngày 29/6/2007.
    • + Tổng số tiền phải thay thế của tài sản là: 437.000đ (Bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
    • + Tổng số tiền sửa chữa tài sản là: 174.000đ (Một trăm bảy mươi tư nghìn đồng).
  • Phần hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, BKS: 29X5 – 78999, đã qua sử dụng từ ngày 29/03/2023.
    • + Tổng số tiền phải thay thế của tài sản là: 1.197.000 (Một triệu một trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
    • + Tổng số tiền sửa chữa tài sản là: 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tổng giá trị phần hư hỏng của 02 tài sản trên là 1.968.000đ (Một triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

* Kết quả giám định nguyên nhân chết, giám định thương tích:

Ngày 18/06/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu Trung tâm P1 giám định nguyên nhân chết của ông Nguyễn Viết T. Tuy nhiên gia đình ông T kiên quyết từ chối mổ tử thi, chỉ đồng ý khám ngoài tử thi với lý do gia đình xác định ông T tử vong do tai nạn giao thông. Ngày 28/06/2024, Trung tâm P1 ra Kết luận giám định pháp y tử thi số 818/823/KLGĐTT-TTPY, kết luận:

* Các kết quả chính:

- Kết quả khám nghiệm:

  • + Nhiều vết sây sát, bầm tím, rách da vùng đầu, mặt, ngực, bụng, hai tay và hai chân.
  • + Biến dạng 1/3 giữa đùi trái.
  • + Cơ chế: Do va chạm với vật tày, tày có cạnh gây nên.

- Kết quả xét nghiệm, giám định khác:

  • + Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Viết T giám định: Có Ethanol, nồng độ 233,67mg/100ml máu.
  • + Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Viết T giám định: Không tìm thấy các chất ma túy kể trên.

* Kết luận:

Kết luận giám định nguyên nhân chết: Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết. Mẫu máu của nạn nhân có Ethanol, nồng độ 233,67mg/100ml máu.

Ngày 30/07/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích để xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lê Thiên B1. Tuy nhiên, anh B1 cùng người giám hộ tự nguyện viết đơn xin từ chối giám định thương tích, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với lý do B1 nhận thấy B1 là người có lỗi trong vụ việc đồng thời thương tích của B1 nhẹ, hiện đã khỏi. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra Quyết định dẫn giải đối với B1 để đưa B1 đi giám định thương tích tuy nhiên B1 và gia đình kiên quyết từ chối giám định, không chấp hành dẫn giải.

Ngày 09/08/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích để xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Đức Hồng Đ. Tuy nhiên, anh Đ cùng người giám hộ tự nguyện viết đơn xin từ chối giám định thương tích, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với lý do thương tích của Đăng nhẹ, hiện đã khỏi. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra Quyết định dẫn giải đối với Đ để đưa Đ đi giám định thương tích tuy nhiên Đ và gia đình kiên quyết từ chối giám định, không chấp hành dẫn giải.

* Kết quả giám định dấu vết va chạm, giám định tốc độ:

Ngày 31/07/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu Phòng K2 Công an T9 giám định dấu vết phương tiện giao thông đối với vụ việc trên.

Ngày 04/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H nhận được Kết luận giám định số 6180/KL-KTHS ngày 29/08/2024 của Phòng K2 Công an T9, kết luận:

“1. Dấu vết va chạm và cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên 02 (hai) phương tiện:

  • Dấu vết trượt xước kim loại trên diện (2,5x0,5)cm ở mặt ngoài giá bắt giữ dây phanh gắn ở may ơ bên trái bánh trước xe mô tô BKS: 29X5 – 78.999, chiều hướng từ trước về sau (Ảnh A3-> A5 – Bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại trên diện (1x2,5)cm ở mặt ngoài càng bánh trước bên trái xe mô tô BKS: 33M4 – 4291 (phía trước trục bánh xe), chiều hướng từ trước ra sau (Ảnh B3-> B5 – bản ảnh giám định).
  • Dấu vết trượt xước kim loại trên diện (2x2)cm ở mặt ngoài ốc và trục bánh trước bên trái xe mô tô BKS: 29X5 – 78999, chiều hướng từ trước ra sau (Ảnh A6 – Bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại trên diện (1x2,5)cm ở mặt ngoài càng bánh trước bên trái xe mô tô BKS: 33M4 – 4291 (phía trên trục bánh xe), chiều hướng từ trước ra sau (Ảnh B6 – Bản ảnh giám định).
  • Dấu vết trượt xước nhựa, xước cong kim loại ở mặt ngoài bên phải xe mô tô BKS: 29X5 – 78999 (đầu chắn bùn bánh trước, đầu tay phanh, đầu tay lái, ốp đèn xin nhan trước, cánh yếm, ốc trục bánh trước, bàn phanh chân, đầu bàn để chân trước), chiều hướng từ trước về sau (Ảnh A7 -> A12 – Bản ảnh giám định) do va chạm với vật tày cứng (dạng mặt đường) tạo ra.
  • Dấu vết trượt xước nhựa, xước cong kim loại ở mặt ngoài bên phải xe mô tô BKS: 33M4 – 44291 (đầu tay phanh, đầu tay lái, bàn phanh chân, đầu bàn để chân trước, ống xả), chiều hướng từ trước về sau (Ảnh B7 -> B10 – Bản ảnh giám định) do va chạm với vật tày cứng (dạng mặt đường) tạo ra.
  • Dấu vết còn lại trên 02 phương tiện không đủ yếu tố giám định.
  • 2. Không xác định được tốc độ của 02 (hai) phương tiện trên tại thời điểm xảy ra tai nạn.”

Ngày 30/10/2024, Cơ quan điều tra có công văn số 1478 gửi Phòng K2 - Công an thành phố T9 xác định vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên mặt đường. (BL 155)

Ngày 11/11/2024, Phòng K2 - công an thành phố T9 có công văn trả lời số 623: Vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS 33M4 – 4291 và xe mô tô BKS 29X5 – 789.99 trên mặt đường tại hiện trường ở khoảng đầu vết cày, mài trượt (1) đến đầu vết mài trượt (3) theo sơ đồ hiện trường.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn của anh Lê Thiên B1 là 0.000mg/L.

Cơ quan CSĐT Công an huyện H tiến hành làm việc với chính quyền địa phương xã S được cung cấp: Qua xem xét UBND xã S nhận thấy hành vi của nhóm nam thanh niên gồm 08 đối tượng (độ tuổi từ 15 đến 16 tuổi) điều khiển xe máy đi trên đường tỉnh lộ 422 thuộc địa phận xã S, H, Hà Nội, đi với tốc độ cao, mang theo các quả bóng có chứa nước để ném vào người đi đường sau đó xảy ra tai nạn giao thông đường bộ vào ngày 18/6/2024 là hành vi gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã S, đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện H căn cứ vào hành vi, mức độ vi phạm của vụ việc từ đó có biện pháp xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để mang tính răn đe, ổn định tình hình để người dân yên tâm khi tham gia giao thông cũng như đảm bảo an ninh trật tự tại địa bàn.

* Kết quả xác minh phương tiện tạm giữ:

  • Chiếc xe mô tô BKS: 29X5 – 78999 đứng tên Nguyễn Đức Hồng Đ là con ông Nguyễn Đức H mua mới vào năm 2023 để tên đăng ký xe là Nguyễn Đức Hồng Đ. Tối ngày 18/06/2024, Đ tự ý lấy xe sử dụng, ông H không biết. Do vậy, không có căn cứ để xử lý đối với ông H. Hiện chiếc xe đang được tạm giữ theo hồ sơ vụ án.
  • Xe mô tô BKS: 29X5 – 449.46 đứng tên đăng ký bà Nguyễn Thị Huyền N (là mẹ của V) cung cấp xe mô tô BKS: 29X5 – 449.46 là của bà N. Tối ngày 18/06/2024, V tự ý lấy xe sử dụng, bà N không biết, không giao xe cho V. Do vậy, không có căn cứ để xử lý đối với bà N. Hiện chiếc xe đang được tạm giữ theo hồ sơ vụ án.
  • Xe mô tô BKS: 29X5 – 859.20 đăng ký tên chủ xe là Nguyễn Xuân H1, H1 là con của bà Nguyễn Thị T7, bà T7 cung cấp: Xe mô tô BKS: 29X5 – 859.20 là của vợ chồng bà Thu M1 để tên đăng ký xe là Nguyễn Xuân H1. Tối ngày 18/06/2024, H1 tự ý lấy xe sử dụng. Do vậy, không có căn cứ để xử lý đối với vợ chồng bà T7. Hiện chiếc xe đang được tạm giữ theo hồ sơ vụ án.
  • Xe mô tô BKS: 29X5 – 838.47 đứng tên bà Nguyễn Thị P (là mẹ của K1). Bà P cung cấp xe mô tô BKS: 29X5 – 838.47 là của bà P. Tối ngày 18/06/2024, K1 tự ý lấy xe sử dụng, bà P không biết, không giao xe cho K1. Do vậy, không có căn cứ để xử lý đối với bà P. Hiện chiếc xe đang được tạm giữ theo hồ sơ vụ án.
  • Xe mô tô BKS: 33M4 - 4291 đăng ký tên chủ xe là Nguyễn Viết C2, SN: 1971, HKTT: Thôn Đ, S, H, Hà Nội. Ông C2 khai chiếc xe mô tô trên ông đã bán cho ông Nguyễn Viết T. Hiện chiếc xe được tạm giữ theo hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc gia đình B1 và Đ đã đến thăm hỏi, hỗ trợ gia đình ông T chi phí về mai táng nên đại diện gia đình ông T là anh Nguyễn Viết T2 (con trai ông T) không đề nghị yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với B1.

Đối với hành vi của Lê Thiện B2 (tính đến thời điểm phạm tội 14 tuổi 07 tháng 25 ngày), Nguyễn Như Hoàng V (tính đến thời điểm phạm tội 14 tuổi 07 tháng 24 ngày) và Lương Giang K1 (tính đến thời điểm phạm tội 15 tuổi 06 tháng 24 ngày) đồng phạm với các bị can Nguyễn Đức Hồng Đ, Nguyễn Như Hoàng T5, Nguyễn Chí Đ1, Nguyễn Viết C, Nguyễn Xuân H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” và Lê Thiên B1 có thêm hành vi về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tuy nhiên, B1, V, K1 phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi thực hiện thì đều dưới 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên căn cứ Điều 12 BLHS thì B1, V, K1 không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trên. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý hình sự là có căn cứ.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Đức Hồng Đ, Nguyễn Như Hoàng T5, Nguyễn Chí Đ1, Nguyễn Viết C, Nguyễn Xuân H1 đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nha,u, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác thể hiện trong hồ sơ.

Tại bản cáo trạng số 177/CT-VKSHĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức - thành phố Hà Nội đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và tội “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự và khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Bản án sơ thẩm số 195/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và tội “Gây rối trật tự công cộng”

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 264 và khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và 08 (tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng Điều 55: Quy đổi 12 tháng cải tạo không giam giữ thành 04 (bốn) tháng tù, buộc bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ phải chịu hình phạt chung của hai tội là: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/12/2024, ông Nguyễn Đức H người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết, người đại diện theo pháp luật của bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại nhưng tòa sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 51 BLHS. Đề nghị HĐXX áp dụng thêm điểm b khoản 1 điều 51 BLHS, sửa án sơ thẩm: phạt tiền 10.000.000 đồng đối với tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội gây rối trật tự công cộng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi xem xét kháng cáo của bị cáo, đề nghị:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt của bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Người đại diện theo pháp luật của bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo, nộp trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Theo lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của bị cáo, tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 18/6/2024, Nguyễn Đức Hồng Đ giao xe mô tô 02 bánh nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 29X5-78999, dung tích xi lanh 109,1cm² cho Lê Thiên B1 (Đăng biết rõ B1 không có giấy phép lái xe hạng A1: vi phạm khoản 9 Điều 8, điểm a khoản 2 Điều 59 Luật giao thông đường bộ) điều khiển và cùng Nguyễn Như Hoàng T5, Nguyễn Chí Đ1, Nguyễn Viết C, Nguyễn Xuân H1 đi chuẩn bị các túi bóng bay đựng nước rồi di chuyển trên tuyến đường 422 thuộc địa phận xã S với tốc độ nhanh khoảng 60km/h đến 70km/h, bấm còi inh ỏi, ném bóng nước vào những người đi đường. Quá trình di chuyển tốc độ nhanh, B1 điều khiển xe lấn sang làn đường bên trái theo chiều Sơn Đ2 đi C thì đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 33M4 - 4291 do ông Nguyễn Viết T điều khiển đi đúng làn, đúng chiều (hướng Cát Q1 đi ngã tư S). Xe mô tô BKS: 29X5 - 449.46 do V điều khiển chở C tránh xe mô tô BKS: 29X5 - 78999 (đang ngã ra giữa đường) nhưng do tốc độ nhanh nên cũng bị ngã ra đường. Hậu quả, ông T tử vong tại chỗ, 02 xe mô tô hư hỏng nhẹ.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Nguyễn Đức Hồng Đ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự và khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nhân thân có 02 tiền sự chưa hết thời hiệu nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn phạm 02 tội, tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo đúng người, đúng tội và mức hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật nên kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được án treo là không được chấp nhận.

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo áp dụng thêm điểm b khoản 1 điều 51 BLHS cho bị cáo: Xét thấy: gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông T, đại diện gia đình ông T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm có nhận định trong bản án nhưng áp dụng khoản 2 điều 51 là không chính xác nhưng cũng đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS, cần áp dụng điểm b khoản 1 điều 51 BLHS cho bị cáo nên đề nghị của người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng thêm điểm b khoản 1 điều 51 BLHS, sửa án sơ thẩm: phạt tiền 10.000.000 đồng đối với tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội gây rối trật tự công cộng là không có căn cứ chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 195/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

[2]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264 và khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; Điểm s, b Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và 08 (tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng Điều 55: Quy đổi 12 tháng cải tạo không giam giữ thành 04 (bốn) tháng tù, buộc bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ phải chịu hình phạt chung của hai tội là: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt đi thi hành án.

[3]. Về án phí: Căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đức Hồng Đ phải nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS TP. Hà Nội;
  • - Công an, VKS, Tòa án, Chi cục THADS huyện Hoài Đức;
  • - Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2025/HS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 255/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS - Nguyễn Đức Hồng Đăng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger