|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 255/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16-6-2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hạnh
Bà Dương Thị Kim Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 205/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 04 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1990; Căn cước công dân: [...]; Nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường X, quận B, Thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Trịnh Đình K, sinh năm 1990; Chứng minh dân dân : 142584172; Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Khu K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trịnh Đình K được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K (N là thị trấn C), huyện C, tỉnh Hải Dương vào ngày 27/09/2013. Sau khi cưới chị và anh K chung sống một thời gian thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm, luôn có tính cách trái ngược nhau, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng. Cuộc sống hôn nhân ngột ngạt, mệt mỏi, hôn nhân không có hạnh phúc. Đến năm 2017, anh K đi lao động tại Đài Loan, từ đó đến nay vợ chồng anh chị không còn thường xuyên liên lạc, không còn quan tâm, hỏi han lẫn nhau, việc ai người ấy làm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K để ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 người con chung là Trịnh Khánh H, sinh ngày 08/5/2016. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên. Chị tự nguyện không yêu cầu anh K phải thực hiện chu cấp tiền nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị P không cung cấp được địa chỉ của anh Trịnh Đình K tại Đài Loan nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh K. Bà Phạm Thị H1 (là mẹ đẻ anh K) trình bày: Bà không biết địa chỉ cụ thể của anh K ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên, anh K vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại. Bà nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh K biết. Quan điểm của anh K là đồng ý ly hôn với chị P, về con chung, anh K đồng ý giao con chung Trịnh Khánh H cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Anh K không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị P vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt. Anh K vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Trịnh Đình K; Về con chung: Giao con chung là Trịnh Khánh H, sinh ngày 08/5/2016 cho chị Nguyễn Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh K cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn anh Trịnh Đình K hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại Khu K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị P không cung cấp được địa chỉ của anh K tại Đài Loan. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị P và gia đình anh K cung cấp địa chỉ, nhưng chị P và gia đình anh K không cung cấp được. Bà Phạm Thị H1 (là mẹ đẻ anh K) xác định anh K vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, bà đã thông báo về việc chị P có đơn xin ly hôn, anh K không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
[1.3] Tại phiên tòa, chị P có quan điểm xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh K đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Trịnh Đình K kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K (nay là thị trấn C), huyện C, tỉnh Hải Dương vào ngày 27/09/2013 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới chị P và anh K chung sống một thời gian thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm, luôn có tính cách trái ngược nhau, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng. Năm 2017, anh K đi lao động tại Đài Loan từ đó đến nay vợ chồng không còn thường xuyên liên lạc, quan tâm đến nhau. Chị P có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình anh K có quan điểm nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị P. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị P và anh K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị không còn quan tâm, yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, xử cho chị P được ly hôn anh K là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị P và anh K có 01 con chung là Trịnh Khánh H, sinh ngày 08/5/2016. Sau khi ly hôn, chị P và anh K đều có quan điểm giao cháu H cho chị P nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của cháu H, phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Chị P tự nguyện không yêu cầu anh K cấp dưỡng tiền nuôi cháu H nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của chị P.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị P là nguyên đơn nên phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Phương ly hôn anh Trịnh Đình K.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị P được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trịnh Khánh H, sinh ngày 08/5/2016 kể từ tháng 6/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh K cấp dưỡng tiền nuôi con. Sau khi ly hôn, anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0001801 ngày 22 tháng 04 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị P đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, anh Trịnh Đình K vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết;
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 255/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 255/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
