Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2025/DS-PT

Ngày: 09-6-2025

V/v: “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản

trở trái pháp luật đối với việc sử dụng

đất".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.

Các thẩm phán:

  1. Ông Phạm Văn Tâm;
  2. Ông Nguyễn Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 120/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 15 năm 2025 về việc “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 31-3-2025, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 186/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm: 1973; nơi cư trú: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1950; nơi cư trú: khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  3. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1953; nơi cư trú: số 1, đường N, khu phố A, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1 Anh Trần Chí H, sinh năm: 1997; nơi cư trú: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    • 3.2 Anh Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    • Người đại diện theo ủy quyền của anh H và anh T1 là nguyên đơn ông Trần Văn D.

    • 3.3 Bà Trần Thị Thúy H1, sinh năm: 1977; nơi cư trú: khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  5. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị B là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Trần Văn D, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Chí H và anh Nguyễn Hoàng T1 trình bày: Ông, anh T1 và anh H yêu cầu bà Nguyễn Thị B cùng con bà B là bà Trần Thị Thúy H1 có nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc ông cùng với anh H và anh T1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 1209 m², trong đó bao gồm: diện tích 303 m², thửa số 227 thuộc quyền sử dụng của ông (Dân); diện tích 302 m², thửa số 228 thuộc quyền sử dụng của anh H; diện tích 302 m², thửa số 242 và diện tích 302 m², thuộc thửa số 243 thuộc quyền sử dụng của anh T1. Đất tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, Tây Ninh.

Lý do yêu cầu: Diện tích 1209 m² lúc đầu ông nhận chuyển nhượng từ anh Nguyễn Tấn L cùng vợ là chị Nguyễn Thị Bé T2. Sau khi nhận chuyển nhượng ông tách thành 03 thửa gồm thửa 227 có diện tích 303 m², thửa 228 có diện tích 302 m² và thửa 229 có diện tích 604 m², ông chuyển cho anh Nguyễn Hoàng T1 toàn bộ 03 thửa đất này

Khi ông giao đất cho anh T1 thì bị bà B ngăn cản nên không giao được. Từ đó, ông phải nhận chuyển nhượng lại từ anh T1 02 thửa 227 và 228; riêng thửa 229 thì vẫn còn là của anh T1. Sau đó, anh T1 tách thửa 229 thành 02 thửa là 242 và 243, mỗi thửa đều có diện tích 302 m². Lần lượt ông, anh H và anh T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên từng thửa đất tương ứng.

Từ khi được cấp giấy đất cho đến nay ông, anh H và anh T1 không sử dụng đất được do bà B và bà H1 ngăn cản (mỗi lần đến đất thì bà B không cho tiếp cận để sử dụng đất), bà B cho rằng đất thuộc quyền sử dụng của bà B, bà B bị anh N lừa gạt để bà ký tên chuyển nhượng đất sang cho ông L sau đó ông L chuyển nhượng cho ông.

Năm 2023, bà B khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dung đất với vợ chồng ông L đối với toàn bộ diện tích 1209 m². Khi tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông, anh H và anh T1 có yêu cầu độc lập là yêu cầu Tòa án công nhận các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho từng người với từng thửa đất tương ứng.

Qua 02 cấp xét xử, ngày 07-6-2024, Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm, theo đó công nhận tất cả các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều hợp pháp. Buộc vợ chồng ông L có nghĩa vụ trả cho bà B số tiền chuyển nhượng theo hợp đồng và giá cây trồng trên đất là 1.174.000.000 đồng.

Tuy nhiên, cho đến nay bà B và bà H1 vẫn ngăn cản không cho ông, ông, anh H và anh T1 sử dụng đất. Với lý do bà B chưa nhận đủ tiền do vợ chồng anh L trả nên vẫn tiếp tục thực hiện hành vi ngăn cản.

Với những lý do trên, ông yêu cầu bà B và bà H1 có nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc ông, anh H và anh T1 được quyền sử dụng các phần diện tích đất nói trên.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B là ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông không chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện của ông D, anh T1 và anh H. Bởi lẽ, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các đương sự theo bản án số 254/2024/DS-PT ngày 07-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã xét xử chỉ là hợp đồng trên giấy tờ, không tồn tại trên thực tế vì bà B chưa giao đất cho vợ chồng anh L sử dụng, vợ chồng anh L chưa trả tiền cho bà B. Do đó, diện tích 1209 m² chưa phải là tài sản của vợ chồng anh L nên vợ chồng anh L không có quyền chuyển nhượng cho người khác.

Trên diện tích 1209 m² có giá trị tài sản là cây trồng trên đất theo giá thẩm định là 82.600.000 đồng. Tuy nhiên, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D, anh H và anh T1 thì chỉ có quyền sử dụng đất, không được ghi nhận quyền sở hữu tài sản trên đất. Từ năm 2000 đến nay, ngoài bà B ra không có ai sử dụng đất; tài sản trên đất cũng là của bà B, không thuộc quyền sở hữu của người nào khác.

Bà B đã giảm khoản tiền mà vợ chồng anh L phải trả cho bà xuống còn 900.000.000 đồng. Tuy nhiên, cho đến nay vợ chồng anh L chỉ mới trả được 500.000.000 đồng, còn lại 400.000.000 đồng vợ chồng anh L hẹn đến ngày 25-9-2025 sẽ trả hết.

Do bà B chưa nhận được số tiền còn lại nên bà B vẫn tiếp tục ngăn cản không cho ông D, anh H và anh T1 sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thúy H1 trình bày: Thống nhất theo lời tình bày của ông T. Tức khi nào mẹ bà chưa nhận đủ số tiền còn lại là 400.000.000 đồng từ vợ chồng ông L thì bà cùng mẹ bà vẫn tiếp tục ngăn cản không cho ông D, anh H và anh T1 sử dụng đất.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 31-3-2025, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng bàng, tỉnh Tây Ninh, quyết định.

Căn cứ các điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 12, 26,166 của Luật Đất đaiĐiều 169 của Bộ luật D sựĐiều 12 và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị Thúy H1 có nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc ông Trần Văn D được quyền sử dụng phần đất có diện tích 303 m², thuộc đất số 227, tờ bản đồ số 04, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông D đứng tên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16-12-2022, số CS24603.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của anh Trần Chí H.

Buộc bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị Thúy H1 có nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc anh Trần Chí H được quyền sử dụng phần đất có diện tích 302 m², thuộc thửa số 228, tờ bản đồ số 04, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh H đứng tên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16-12-2022, số CS24602.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của anh Nguyễn Hoàng T1.

Buộc bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị Thúy H1 có nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc anh Nguyễn Hoàng T1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 302 m², thuộc thửa số 242 và diện tích 302 m² thuộc thửa số 243, tờ bản đồ số 04, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh T1 đứng tên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 20-01-2022, số CS22188.

Tất cả các phần đất đều tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, Tây Ninh.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 09-4-2025, bà B có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D, anh H, anh T1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị B. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 31-3-2025, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng bàng, tỉnh Tây Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị B kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại Điều 271 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị B thì thấy rằng:

Phần diện tích 1.209 m² trước đây thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị B. Năm 2020, bà B chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tấn L và bà Nguyễn Thị Bé T2, đến những người cuối cùng là ông D, anh H và anh T1 là không đúng ý chí, nguyện vọng của bà nên bà đã làm đơn khởi kiện và đã được Tòa án nhân dân 02 cấp xét xử. Tại bản án số 254/2024/DS-PT ngày 07-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên: Diện tích 1209 m² thuộc quyền sử dụng của ông D, anh H và anh T1. Đồng thời buộc ông Nguyễn Tấn L cùng vợ là bà Nguyễn Thị Bé T2 có nghĩa vụ trả cho bà B số tiền nhận chuyển nhượng đất theo hợp đồng và giá trị cây trồng trên đất là 1.174.000.000 đồng, cùng lãi suất chậm thi hành án. Khi thi hành án bà B đã giảm số tiền ông L và bà T2 phải trả xuống còn 900.000.000 đồng, ông L và bà T2 đã trả được số tiền 500.000.000 đồng, còn lại 400.000.000 đồng ông L và bà T2 hẹn đến ngày 25-9-2025 sẽ trả hết.

Bà B cho rằng do bà chưa nhận được số tiền còn lại là 400.000.000 đồng nên bà B cùng con bà B là bà H1 tiếp tục ngăn cản không cho ông D, anh H và anh T1 sử dụng phần diện tích 1.209 m² đất. Hành vi này của bà B và bà H1 là không đúng quy định của pháp luật. Việc bà B chưa nhận được tiền từ vợ chồng ông L, không liên quan đến việc ông D, anh H và anh T1 được quyền sử dụng diện tích 1.209 m² đất. Đồng thời, không có văn bản nào quy định việc ông D, anh T1 và anh H được quyền sử dụng đất có kèm theo điều kiện là bà B phải nhận được đủ số tiền do vợ chồng anh L giao trả. Do đó, cấp sơ thẩm buộc bà B và bà H1 có nghĩa vụ cấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc ông D, anh H và anh T1 sử dụng phần diện tích 1.209 m² là có căn cứ. Bà B kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bà nên không có căn cứ chấp nhận.

[3] Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị B. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 31-3-2025, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng bàng, tỉnh Tây Ninh.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà bé là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà B.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ các điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 12, 26, 166 của Luật Đất đaiĐiều 169 của Bộ luật Dân sự căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị B.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 31-3-2025, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng bàng, tỉnh Tây Ninh.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D.
  4. Buộc bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị Thúy H1 có nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc ông Trần Văn D được quyền sử dụng phần đất có diện tích 303 m², thuộc đất số 227, tờ bản đồ số 04, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông D đứng tên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16-12-2022, số CS24603.

  5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của anh Trần Chí H.
  6. Buộc bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị Thúy H1 có nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc anh Trần Chí H được quyền sử dụng phần đất có diện tích 302 m², thuộc thửa số 228, tờ bản đồ số 04, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh H đứng tên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16-12-2022, số CS24602.

  7. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của anh Nguyễn Hoàng T1.
  8. Buộc bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị Thúy H1 có nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc anh Nguyễn Hoàng T1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 302 m², thuộc thửa số 242 và diện tích 302 m² thuộc thửa số 243, tờ bản đồ số 04, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh T1 đứng tên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 20-01-2022, số CS22188.

    Tất cả các phần đất đều tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, Tây Ninh.

  9. Về án phí sơ thẩm dân sự: Bà Nguyễn Thị B là người cao tuổi nên được miễn án phí. Buộc bà Trần Thị Thúy H1 phải chịu 900.000 (chín trăm nghìn) đồng.
  10. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho các đương sự gồm: Ông Trần Văn D 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000429 ngày 06-10-2024, anh Trần Chí H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0012026 ngày 21-11-2024 và anh Nguyễn Hoàng T1 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0012025 ngày 21-11-2024. Tất cả các biên lai thu đều của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.

  11. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị Thúy H1 phải chịu 900.000 (chín trăm nghìn) đồng. Ghi nhận ông Trần Văn D đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông D được hoàn trả lại số tiền 900.000(chín trăm nghìn) đồng (do bà B và bà H1 nộp).
  12. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị B được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
  13. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - PKTNV TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND tx Trảng Bàng;
  • - CC THADS tx Trảng Bàng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2025/DS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc sử dụng đất

  • Số bản án: 255/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở pháp luật đối với quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger