Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2024/KDTM-PT

Ngày: 30/9/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Thọ Viên

Các Thẩm phán:

Bà Vũ Thị Hường

Bà Lưu Thị Đoan Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 238/2015/KDTMPT ngày 30 tháng 11 năm 2015 về vụ việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 102/2015/KDTM-ST ngày 24 tháng 8 năm 2015 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4214/2024/QĐPT-KDTM ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K3

Trụ sở: 7 B, quận H, Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ liên lạc: Lầu A số I T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc K và bà Nguyễn Ngọc Xuân N (Văn bản ủy quyền số 1889-02/2004/GUQ-TCB ngày 18/6/2024)

Cùng địa chỉ: Tầng C, Tòa W, L, số B V phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty TNHH T3

Trụ sở: E Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Hoàng G – Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Địa chỉ: E Đ, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Văn X
  2. Bà Lê Thị T
  3. Bà Trần Thị Thanh H
  4. Ông Trần Văn Đ
  5. Bà Trần Thị H1
  6. Bà Nguyễn Thị Ngọc H2

Cùng trú tại: 1 đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ông Nguyễn Văn H3
  2. Bà Đinh Thị N1

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H3 và bà N1: Ông Võ Quang Đ1 – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Quang Đông

  1. Bà Nguyễn Thị Kiên C
  2. Bà Nguyễn Thị Trung K1

Cùng trú tại: B T, K, phường B, thành phố T,Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bà Trần Thị T1 (chết năm 2020)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1: Ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị Kiên C, bà Nguyễn Thị Trung K1.

Cùng trú tại: B T, K, Phường B, thành phố T,Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bà Nguyễn Thị Trung Dũng

Trú tại: A- B- A Furstemvalde/ S. (Cộng Hòa liên bang Đ2)

  1. Ông Vương Đình Quỳnh H4

Địa chỉ: 2.1 Lô B chung cư 1ha, T, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

  1. Bà Đoàn Ngọc Diễm P

Địa chỉ: C V, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bà Phạm Thị Thu H5

Địa chỉ: số B đường A, KP4, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kiên C, ông Trần Văn X, ông Nguyễn Văn H3, bà Đinh Thị N1, ông Phạm Văn K2 đại diện bà Trần Thị Tuyết .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trình bày của đại diện nguyên đơn:

2

Ngày 29/08/2011, Công ty TNHH T3 và Ngân hàng T4 – Chi nhánh C1 đã cùng ký kết Hợp đồng tín dụng số 2142/HĐHMTD-DN/TCB-QU5 với khế ước nhận nợ như sau:

SỐ HĐ Tín dụngSố Khế ướcNgày nhận nợNgày đến hạn trả nợThời hạnMục đích vayLãi suấtSố tiền giải ngân
2142/HĐHMTD-DN/TCB-QU5216008/9/201108/01/201204 thángThanh toán tiền mua hàng20,9% /năm7.369.000.000 VND
224428/10/201128/02/201204 thángThanh toán tiền hàng20,9% /năm17.631.000.000 VND
TỔNG CỘNG25.000.000.000 VND

Khoản vay nêu trên được đảm bảo bằng các tài sản sau:

Căn cứ theo hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 2142/HĐTC-BĐS/TCB-QU5 ngày 06/09/2011 giữa Ngân hàng T4 – chi nhánh C1 và bên thế chấp là: ông Trần Văn X và bà Lê Thị T.

  • Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 139-SĐN (08-TL02) có tổng diện tích 985,3 m² tọa lạc tại 131/60, đường B, KP H, phường B, quận B, TP . (Số cũ: 14/38 KP8, phường B, quận B, TP .). Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: H 00238/Bình Hưng Hoà do Ủy ban nhân dân Quận B, TP . cấp cho ông Trần Văn X và bà Lê Thị T ngày 24/05/2005.
  • Việc thế chấp được thực hiện theo hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 2142/HĐTC-BĐS/TCB-QU5 ngày 06/09/2011 đã được công chứng tại Phòng C2, TP., đăng ký giao dịch đảm bảo tại Phòng Tài Nguyên Môi Trường quận B, TP . ngày 06/09/2011.

Căn cứ theo hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 2235/HĐTC-BĐS/TCB-QU5 ngày 26/10/2011 giữa Ngân hàng T4 – chi nhánh C1 và bên thế chấp là: bà Nguyễn Thị Trung K1.

  • Tài sản thế chấp là: Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 16171/2001 do U cấp ngày 10/08/2001. Đã thay đổi chủ tài sản ngày 31/07/2007.

Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 502 (thửa cũ: một phần thửa số 46), tờ bản đồ số 33 (tài liệu năm 2004) có tổng diện tích 1125,72m² toạ lạc tại số B, KP4, đường T, phường B, quận T, TP . (Số cũ: 228, T, phường B, quận T, TP .).

3

Và tài sản gắn liền với đất là căn nhà toạ lạc tại số B, KP D, đường T, phường B, quận T, TP . (Số cũ: 228, T, phường B, quận T, TP .) với tổng diện tích sử dụng 242,62 m², diện tích xây dựng 199,57 m², kết cấu nhà: tường gạch, sàn BTCT, mái BTCT + tole, số tầng: 2 tầng, số 1,2.

  • Việc thế chấp được thực hiện theo hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 2235/HĐTC-BĐS/TCB-QU5 ngày 26/10/2011 đã được công chứng tại Phòng C3, TP., đăng ký giao dịch đảm bảo tại Phòng Tài Nguyên Môi Trường quận T, TP . ngày 27/10/2011.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T3 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết. Ngân hàng đã gửi nhiều thông báo, công văn và làm việc trực tiếp yêu cầu Công ty T3 thanh toán nợ cũng như yêu cầu các bên bảo lãnh là ông Trần Văn X, bà Lê Thị T và bà Nguyễn Thị Trung K1 bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng xử lý theo đúng quy định nhưng Công ty T3, các bên bảo lãnh nêu trên đều không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng T4 đã gửi thông báo khởi kiện đến khách hàng theo đúng quy định.

Tạm tính đến ngày 28/7/2012, dư nợ của Công ty T3 tại Ngân hàng T4 cụ thể như sau:

  • Nợ gốc: 25.000.000.000 đồng
  • Nợ lãi quá hạn: 19.500.962.708 đồng
  • Nợ lãi trong hạn: 453.173.683 đồng
  • Lãi phạt: 355.238.565 đồng
  • Tổng nợ: 45.309.374.957 đồng

(Bằng chữ: bốn mươi lăm tỷ, ba trăm lẻ chín triệu, ba trăm bảy mươi bốn ngàn, chín trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

Ngân hàng T4 khởi kiện yêu cầu:

  1. Buộc Công ty T3 phải thanh toán cho Ngân hàng T4 số tiền còn nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 2142/HĐHMTD-DN/TCB-QU5 ngày 29/08/2011 với tổng nợ là 45.309.374.957 đồng, bao gồm số tiền nợ gốc là 25.000.000.000 đồng và số tiền nợ lãi là 20.309.374.956 đồng (Tạm tính đến hết ngày 28/7/2014).
  2. Buộc Công ty T3 phải thanh toán cho Ngân hàng T4 số tiền lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi phạt tại Hợp đồng tín dụng số 2142/HĐHMTD-DN/TCB-QU5 kể từ ngày 17/05/2012 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp sau 15 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Công ty T3 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng T4 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

4

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty T3 đối với Ngân hàng T4. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng T4.

Bị đơn Công ty TNHH T3 vắng mặt đã được tòa án niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Văn X trình bày:

Ông có nhờ Công ty TNHH T3 vay của Ngân hàng T4 số tiền 7.326.000.000 đồng. Công ty TNHH T3 đề nghị ông để lại 6 tháng tiền lãi. Sau đó Cty TNHH P1 sang chỉ đóng tiền lãi 3 tháng cho Ngân hàng T4. Số còn lại 3 tháng C4 giữ lại không đóng. Ngân hàng có mời ông đến để giải quyết công nợ. Nay ông đề nghị giải quyết công nợ theo hướng:

  1. Nhờ ngân hàng hỗ trợ cho ông về giấy tờ để ông hoàn công căn nhà sau đó đi vay để trả nợ ngân hàng.
  2. Cho ông xin lãi phạt quá hạn để có điều kiện trả nợ ngân hàng, lấy tài sản khác đi vay trả nợ ngân hàng.
  3. Tài sản đang vay là tài sản của ông, ông cho ông Trần Quang L mượn để vay ngân hàng. Bản thân ông không có vay.

- Bà Lê Thị T (vợ ông Trần Văn X) trình bày:

Việc vay và thế chấp Ngân hàng T4 chồng bà là người trực tiếp bà có biết và đồng ý. Do sức khỏe kém, mắt yếu nên xin được vắng mặt trong quá trình tòa án các cấp giải quyết vụ án này.

Các con của ông X, bà T là Bà Trần Thị Thanh H, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị H1, bà Nguyễn Thị Ngọc H2. Đều đồng ý và thống nhất theo ý kiến của ông Trần Văn X đồng thời xin được vắng mặt trong quá trình tòa án giải quyết vụ án này.

- Bà Nguyễn Thị Trung K1 trình bày:

Ngày 28/11/2011 bà có mang tài sản là căn nhà B T, Khu phố C, phường B, quận T của bà cho Công ty TNHH T3 ra ngân hàng T4 để thế chấp vay khoản tiền 17.631.000.000 đồng với giao ước vay trong vòng 12 tháng, với lãi suất cố định 20,9%/năm. Sau khi ký kết Công ty T3 sẽ vay thêm cho bà 2.769.000.000 đồng. Nhưng đến chiều ngày 28/10/2011 bà mới nhận được khế ước nhận nợ với số tiền 17.631.000.000 đồng và thời gian vay là 4 tháng. Bà còn phải ký quỹ 3 tháng lãi cho Phú S là 921 triệu đồng. Tính bình quân lãi 307 triệu cho một tháng. Bà có hỏi Công ty T3 sao hợp đồng vay vốn lại có 4 tháng. Công ty T3 trả lời sau 4 tháng Cty sẽ đáo hạn vay lại cho bà. Bà có hỏi khoản vay 2.769.000.000 đồng khi nào có thì Công ty T3 trả lời qua ngày 2/11/2011 sẽ có. Vì theo đúng kế hoạch vay và trả nợ là hợp đồng vay 12 tháng với tổng số tiền 20.400.000.000 đồng là đúng với kế hoạch vay và trả lãi đủ cho ngân hàng. Nhưng vì Công ty T3

5

vẫn không giải quyết số tiền vay còn lại, nên kế hoạch trả nợ của bản thân bà đối với ngân hàng không như mong muốn. Bà yêu cầu ngân hàng hạ lãi phạt xuống khoảng 1,8% để tạo điều kiện cho bà và Công ty T3 trả nợ.

- Ông Nguyễn Văn H3 trình bày:

Căn nhà B T, KP4, phường B, quận T được nhà nước hóa giá theo nghị định 61/CP. Gia đình thống nhất để bà Nguyễn Thị Trung D bỏ tiền ra mua và toàn quyền sở hữu. Nhưng do bà D đang định cư tại cộng Hòa liên bang Đ2 nên nhờ mẹ đứng tên sở hữu căn nhà này. Năm 2002 gia đình có cho ông 200m² trong khuôn viên đất trên. Ông có xây nhà trên toàn bộ diên tích 200m² trên.

Ngày 16/11/2007 bà Trần Thị T1 có ký hợp đồng tặng cho nhà 23 Thống Nhất, KP3, P.B, Quận T cho bà Nguyễn Thị Trung K1. Việc ký hợp đồng tặng cho là giả cách để cho bà K1 có điều kiện làm ăn. Thực chất không phải là tặng cho một mình Bà K1. Do đó bà Trần Thị T1 có yêu cầu Nguyễn Thị Trung K1 lập bản cam kết trả nhà ngày 28/8/2009 và bản cam kết ngày 12/7/2010 được UBND phường B xác nhận. Tuy nhiên bà K1 đã đem ngôi nhà này thế chấp cho ngân hàng TMCP K3. Việc làm này của bà K1 là trái pháp luật và trái đạo đức xã hội. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử hủy hợp đồng thế chấp ngày 26/10/2011 giữa ngân hàng TMCP K3 và bà Nguyễn Thị Trung K1. Yêu cầu bà kiên phải sang tên trả lại căn nhà trên cho bà Trần Thị Tuyết .

Bà Đinh Thị N1 trình bày:

Đồng ý với ý kiến của ông H3 chồng bà.

Bà Trần Thị T1, Bà Nguyễn Thị Kiên C yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp giữa bà Nguyễn Thị Trung K1 với Ngân hàng TMCP K3. Buộc bà K1 phải giao trả nhà lại cho bà T1.

Bà Nguyễn Thị Trung D trình bày:

Căn nhà B T, KP3, P.B, Quận T được nhà nước hóa giá theo nghị định 61/CP. Gia đình thống nhất để bà Nguyễn Thị Trung D bỏ tiền ra mua và toàn quyền sở hữu. Nhưng do bà D đang định cư tại cộng Hòa liên bang Đ2 nên nhờ mẹ đứng tên sở hữu căn nhà này. Năm 2007 Bà T1 có lập bản cam kết giữ nhà cho bà Trung D mọi vấn đề liên quan đến ngôi nhà này chỉ bà Trung D có quyền quyết định. bàn cam kết này được Ủy ban nhân dân phường B xác nhận. Bà yêu cầu tòa buộc bà K1 trả nhà lại cho bà T1 để bà T1 trả nhà lại cho bà.

Ông Vương Đình Quỳnh H4 khai:

ông là người thuê một phần nhà 23 T, Khu phố D, phường B, Quận T để kinh doanh nhà hàng. Ông không có liên quan gì đến tranh chấp giữa ngân hàng T4 và Công ty T3 nên xin được vắng mặt trong quá trình tòa án các cấp giải quyết vụ án.

Bà Đoàn Ngọc Diễm P khai:

bà không có liên quan gì đến tranh chấp giữa ngân hàng T4 và Công ty T3 nên xin được vắng mặt trong quá trình tòa án các cấp giải quyết vụ án.

Bà Phạm Thị Thu H5 trình bày:

Bà có thuê một phần mặt bằng tại địa chỉ B T, Khu phố D, phường B, Quận T hợp đồng thuê với bà Nguyễn Thị Trung K1 đến 2018 mới hết hạn. Bà đã đầu

6

tư vào việc kinh doanh quán cafe gần 5 tỷ đồng. Bà yêu cầu được giải quyết quyền lợi của bà là cho bà tiếp tục thuê cho đến khi hết hạn hợp đồng, hoặc đền bù cho bà để bà di dời sang nơi khác tiếp tục kinh doanh. Hiện do bà và bà K1 chưa xảy ra tranh chấp nên bà xin được vắng mặt, xin không tham gia trong vụ án này.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 102/2015/KDTM-ST ngày 24 tháng 8 năm 2015 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K3 (T4).

Công ty TNHH T3 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần K3 (T4). Cả nợ gốc và lãi của hai khế ước là: nợ gốc 25.000.000.000 đồng, nợ lãi là 28.710.123.899 đồng. Tổng nợ là 53.710.123.899 đồng (Năm mươi ba tỷ, bảy trăm mười triệu, một trăm hai mươi ba ngàn, tám trăm chín mươi chín đồng). Theo Hợp đồng tín dụng số 2142/HĐHMTD-DN/TCB-QU5 Ngày 29/08/2011.

Công ty TNHH T3 có nghĩa vụ tiếp tục phải thực hiện trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc thực nợ được tính theo mức lãi suất quá hạn, lãi phạt do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2142/HĐHMTD-DN/TCB-QU5 Ngày 29/08/2011. Kể từ ngày 11/8/2015 cho đến ngày Công ty TNHH T3 trả dứt nợ. Thời gian trả: thanh toán 01 (một) lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

  1. Trường hợp sau 15 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Công ty T3 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng T4 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm như sau:
  • Theo hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 2235/HĐTC-BĐS/TCB-QU5 ngày 26/10/2011 giữa Ngân hàng T4 – chi nhánh C1 và bên thế chấp là: bà Nguyễn Thị Trung K1. Đã được công chứng tại Phòng C3, TP., đăng ký giao dịch đảm bảo tại Phòng Tài Nguyên Môi Trường quận T, TP . ngày 27/10/2011.

Tài sản thế chấp là: Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 16171/2001 do U cấp ngày 10/08/2001. Đã thay đổi chủ tài sản ngày 31/07/2007. Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 502 (thửa cũ: một phần thửa số 46), tờ bản đồ số 33 (tài liệu năm 2004) có tổng diện tích 1125,72 m² toạ lạc tại số B, Khu phố D, đường T, phường B, quận T, TP . (Số cũ: 228, T, phường B, quận T, TP .). Và tài sản gắn liền với đất là căn nhà toạ lạc tại số B, KP4, đường T, phường B, quận T, TP . (Số cũ: 228, T, phường B, quận T, TP .) với tổng diện tích sử dụng 242,62 m², diện tích xây dựng 199,57 m², kết cấu nhà: tường gạch, sàn BTCT, mái BTCT + tole, số tầng: 2 tầng, số 1,2.

  • Theo hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 2142/HĐTC-BĐS/TCB-QU5 ngày 06/09/2011 giữa Ngân hàng T4 – chi nhánh C1 và bên thế chấp là: ông Trần Văn X và bà Lê Thị T. đã được công chứng tại Phòng C2, TP ., đăng ký

7

giao dịch đảm bảo tại Phòng Tài Nguyên Môi Trường quận B, TP. ngày 06/09/2011.

Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 139-SĐN (08-TL02) có tổng diện tích 985,3 m² tọa lạc tại 131/60, đường B, KP8, phường B, quận B, TP . (Số cũ: 14/38 KP8, phường B, quận B, TP .). Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: H 00238/Bình Hưng Hoà do Ủy ban nhân dân Quận B, TP . cấp cho ông Trần Văn X và bà Lê Thị T ngày 24/05/2005.

Sau khi trừ các chi phí mà tài sản phát mãi không đủ trả nợ, thì Công ty TNHH T3 phải thanh toán tiếp cho đủ. Nếu dư ra thì trả lại cho bà Nguyễn Thị Trung K1 và ông Trần Văn X, bà Lê Thị T. Trường hợp Công ty TNHH T3 thanh toán đầy đủ các khoản nợ và chi phí phát sinh, Ngân hàng thương mại cổ phần K3 (T4) phải có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ toàn bộ các loại giấy tờ bản chính đã thế chấp cho bên thế chấp.

  1. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty TNHH T3 phải chịu 161.710.124 đồng.

Hoàn trả số tiền 67.776.593 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho Ngân hàng thương mại cổ phần K3 (T4) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 02932 ngày 14/06/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo luật định.

Ngày 04/9/2015, ông Nguyễn Văn H3 và bà Đinh Thị N1 kháng cáo bản án sơ thẩm với yêu cầu: Hủy bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng, không đưa bà Nguyễn Thị Trung D (đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đ) vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án và thẩm quyền giải quyết sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bản án sơ thẩm không xem xét quyền lợi của chúng tôi trong việc xây nhà, được cơ quan có thẩm quyền cho phép tồn tại công trình xây dựng của tôi.

Ngày 07/9/2015 bà Nguyễn Thị Kiên C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với yêu cầu: Gia đình tôi có thành viên yếu tố nước ngoài nên, xem xét quyền lợi của các thành viên trong gia đình.

Ngày 07/9/2015 ông Trần Văn X kháng cáo một phần bản án sơ thẩm với yêu cầu: Hủy bản án sơ thẩm vì thiếu khách quan, thiếu căn cứ, vi phạm luật tố tụng dân sự.

Ngày 04/9/2015 đại diện bà Trần Thị T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với yêu cầu: Hủy bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng, gây thiệt hại đến quyền lợi của bà T1 và thẩm quyền giải quyết sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

8

Ông Nguyễn Văn H3, bà Đinh Thị N1, bà Nguyễn Thị Kiên C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H3 và bà N1 đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H3 và bà N1 và đề nghị xem xét quyền lợi của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1 là các con bà T1, gồm: Ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị Kiên C, bà Nguyễn Thị Trung K1 và bà Nguyễn Thị Trung D đang định cư tại C liên bang Đ2. Vụ án có yếu tố nước ngoài nên đề nghị hủy án sơ thẩm, giữ lại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Đại diện nguyên đơn cho rằng việc cho vay, thế chấp tài sản để đảm bảo khoản nợ vay là đúng quy định pháp luật. Bản án sơ thẩm giải quyết là có căn cứ nên không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của các đương sự nêu trên, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự tại cấp phúc thẩm thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Văn H3, bà Đinh Thị N1, bà Nguyễn Thị Kiên C.

Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 102/2015/KDTM-ST ngày 24 tháng 8 năm 2015 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh; Giữ toàn bộ hồ sơ vụ án lại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền. Bởi các căn cứ sau:

Bà Trần Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án (chết năm 2020), có chồng là ông Nguyễn Văn H3 (chết năm 1989).

Do đó, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1 là các con của bà T1 và ông H3: Ông Nguyễn Văn H3 sinh năm 1960, bà Nguyễn Thị Kiên C, bà Nguyễn Thị Trung K1 và bà Nguyễn Thị Trung D hiện đang định cư tại C liên bang Đức. Bà Nguyễn Thị Trung D vừa là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1 và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án cũng cần đưa vào tham gia tố tụng.

Năm 2002, ông Nguyễn Văn H3 xây cất nhà không phép và đã bị Ủy ban nhân dân quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng đối với ông H3 và cho phép tồn tại công trình. Công trình xây cất không phép của ông H3 tồn tại trước khi tài sản được thế chấp tại ngân hàng.

Phần diện tích nhà đất xây cất không phép của ông H3 nằm trong tài sản thế chấp. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm đã không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá phần xây cất không phép của ông H3 để đảm bảo quyền lợi của ông H3 trong việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

9

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  • Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các đương sự làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.
  • Xét yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Văn H3, bà Đinh Thị N1, bà Nguyễn Thị Kiên C cùng những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1 tại phiên tòa phúc thẩm:

Căn cứ tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, qua thẩm tra xác minh và được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, có đủ căn cứ để xác định:

Theo Trích lục khai tử số 74/TLKT-BS ngày 14/4/2020 thì bà Trần Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án (sinh năm 1934, chết năm 2020), có chồng là ông Nguyễn Văn H3 theo Trích lục khai tử số 589/TLKT-BS ngày 08/11/2023 (sinh năm 1929, chết năm 1989). Do ông H3 chết trước bà T1 nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1 là các con của bà T1 và ông H3, gồm: Ông Nguyễn Văn H3 (sinh năm 1960), bà Nguyễn Thị Kiên C, bà Nguyễn Thị Trung K1 và bà Nguyễn Thị Trung D hiện đang định cư trú tại C liên bang Đức.

Ngoài ra tại căn nhà đang thế chấp cho ngân hàng số B T, Khu phố D, phường B, TP . ngoài vợ chồng ông Nguyễn Văn H3 và bà Đinh Thị N1 đang cư trú thì có các con của ông bà là Nguyễn Văn P2, sinh năm 1997 và Nguyễn Thị Lan H6, sinh năm 2000 cũng đang cư trú tại căn nhà trên; Bà Nguyễn Thị Trung K1 cùng con đang cư trú là Nguyễn Đức A, sinh năm 2003 và bà Nguyễn Thị Kiên C. Do đó cũng cần thiết đưa các con của ông H3 và bà N1 là Nguyễn Văn P2, Nguyễn Thị Lan H6 và con của Nguyễn Thị Trung K1 là Nguyễn Đức A vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để đảm bảo quyền và lợi ích của họ trong vụ án.

Năm 2002 ông Nguyễn Văn H3 xây cất nhà không phép và đã bị Ủy ban nhân dân quận T ra Quyết định số 503/QĐ-UB ngày 26/7/2002 về việc xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng đối với ông H3 và cho phép tồn tại công trình theo Quyết định số 171/2006/QĐ-UBND ngày 25/7/2006 của Ủy ban nhân dân quận T.

Phần diện tích nhà đất xây cất không phép của ông H3 nằm trong tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 2235/HĐTC-BĐS/TCB-QU5 ngày 26/10/2011 giữa Ngân hàng T4 – chi nhánh C1 và bên thế chấp là bà Nguyễn Thị Trung K1.

Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm đã không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá phần xây cất không phép được cho phép tồn tại công trình của ông H3 để đảm bảo quyền lợi của ông H3 trong việc giải quyết vụ án.

So với phần diện tích theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 2235/HĐTC-BĐS/TCB-QU5 ngày 26/10/2011 giữa Ngân hàng T4 – chi nhánh C1 và bên thế chấp là bà Nguyễn Thị Trung K1 thì phần diện tích xây cất tại hợp

10

đồng thế chấp nhỏ hơn phần diện tích xây cất hiện hữu đã tồn tại trước khi bà Nguyễn Thị Trung K1 đem thế chấp tại ngân hàng mà cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ, kể cả phần xây cất của bà Nguyễn Thị Trung K1.

Do có phát sinh những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1 là các con của bà T1 và ông H3 như đã nêu cùng những người đang cư trú trên tài sản thế chấp là Nguyễn Văn P2, sinh năm 1997 và Nguyễn Thị Lan H6, sinh năm 2000 và Nguyễn Đức A, sinh năm 2003, nên cần đưa vào tham gia tố tụng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong việc giải quyết vụ án.

Mặc khác cũng cần thiết thẩm tra, xác minh, thẩm định trị giá việc xây cất tồn tại các công trình của các đương sự trước khi thực hiện việc thế chấp tài sản cho ngân hàng để đảm bảo quyền lợi của họ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung, khắc phục được.

Từ nhận xét trên thấy rằng: Để đảm bảo việc hai cấp xét xử, đảm bảo quyền lợi của các đương sự tham gia tố tụng nên cần thiết Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 102/2015/KDTM-ST ngày 24 tháng 8 năm 2015 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh; Giữ toàn bộ hồ sơ vụ án lại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền do có yếu tố nước ngoài, vì người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1 là bà Nguyễn Thị Trung D hiện đang định cư tại C liên bang Đức.

Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn X: Đai diện ngân hàng xác nhận giữa ngân hàng và ông X đã tự thỏa thuận giải quyết xong nên không xem xét yêu cầu kháng cáo của ông H3. Ngân hàng cũng có Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bên ông Trần Văn X. Yêu cầu rút một phần đơn khởi kiện của ngân hàng sẽ được xem xét khi giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Việc hủy án do liên quan đến thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xét lại yêu cầu về nội dung vụ án của các đương sự.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do có phát sinh tình tiết mới trong giai đoạn giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm nên không xác định lỗi của tòa án cấp sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của các đương sự được chấp nhận nên hoàn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho các đương sự kháng cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 148, Điều 293, Khoản 3 Điều 308, Điều 310, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H3, bà Đinh Thị N1 và bà Nguyễn Thị Kiên C.

Hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 102/2015/KDTM-ST ngày 24 tháng 8 năm 2015 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh;

11

Giữ toàn bộ hồ sơ vụ án lại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Hoàn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn H3 và bà Đinh Thị N1 theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002694 ngày 20/11/2015 là 200.000 đồng và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002173 ngày 08/9/2015 là 200.000 đồng, hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Kiên C theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002174 ngày 08/9/2015 là 200.000 đồng, hoàn lại cho ông Nguyễn Văn X1 theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002170 ngày 07/9/2015 là 200.000 đồng, hoàn lại cho đại diện bà Trần Thị T1 là ông Phạm Văn K2 (người nộp tiền là ông Nguyễn Văn H3) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002175 ngày 08/9/2015 là 200.000 đồng của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND quận Bình Thạnh;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thọ Viên

12

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2024/KDTM-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 255/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger