|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 255/2024/HS-ST
Ngày 27-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Nguyễn Thị Kim Thoa
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên – Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 250/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 622/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Văn T, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1965 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số E Đ, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số E N, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Diễn viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn R và bà Lương Thị T1; có vợ là chị Bùi Thị Lan A và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 05/6/2024, đến ngày 13/6/2024 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Anh Lê Xuân H, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 04/6/2024, Hoàng Văn T cùng một số người bạn có ngồi uống rượu tại địa chỉ số C T, Hồ N, Hải Phòng. Đến khoảng 1h45 phút ngày 05/6/2024, T gọi taxi của hãng É để đi về nhà. Một lúc sau, hãng taxi Én Vàng điều xe ô tô BKS 15A-468.97 do lái xe Lê Xuân H (sinh năm: 1996, trú tại: tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng) đến đón. T lên xe đi về cùng với anh Nguyễn Trung P (sinh năm:1983; nơi thường trú: số E Đà Nẵng, L, N, Hải Phòng). Khi anh H chở anh P về địa chỉ số B C, G, N Hải Phòng (gần khu vực hồ T), anh P xuống xe và đòi trả tiền taxi nhưng T không đồng ý, bảo để T trả. Anh H tiếp tục lái xe chở T về số I N, G, Ngô Q, Hải Phòng. Khi tới nơi, H bảo giá tiền cước phí là 140.000 đồng. T đã chuyển khoản trả cho H số tiền 140.000 đồng rồi xuống xe. Ngay sau đó, T nghĩ lại thấy số tiền 140.000 đồng Hải báo giá là không đúng vì T đã nhiều lần đi taxi từ 31 Tam Bạc về nhà nhưng chỉ mất khoảng 60.000 đồng đến 70.000 đồng nên T gọi cho hãng taxi Én Vàng yêu cầu thông báo cho H quay lại trả tiền. Nhận được yêu cầu của tổng đài, H gọi điện cho T và quay lại địa chỉ 98 Nguyễn Hữu T2. Khi anh H quay lại, T lên xe ô tô, ngồi ghế phụ, yêu cầu anh H chở T quay lại chỗ anh P xuống xe ở khu vực hồ T để hỏi xem anh P trước đó đã trả tiền taxi chưa. Trên xe, T có nói với anh H "cước xe đáng ra chỉ mấy chục nghìn sao mày lấy của tao 140.000 đồng", H có xin lỗi T và nói với T là hoàn cảnh gia đình khó khăn nên mới làm như vậy xin T cho trả lại tiền thừa nhưng T không đồng ý và nói "mày phải bồi thường 1.000.000 đồng nếu không thì tao không để mày yên", anh H nói không có và xin trả lại số tiền cước Taxi thừa nhưng T không đồng ý đồng thời T dùng tay phải đấm 02 cái vào vùng mặt anh H, túm cổ áo, chứi bới anh anh H và đe dọa "mày làm ăn láo tao không để mày yên đâu", ngay sau đó, T giằng chiếc điện thoại của anh H kẹp trên giá gắn vào phần taplo của xe cất vào trong người. Đến khu vực phố C, anh H dừng xe, T xuống tìm anh P nhưng không gặp nên đã đi bộ về nhà. Anh H tiếp tục điều khiển xe đi theo xin lại điện thoại nhưng T không trả và đi thẳng về nhà. Ngay sau đó, anh H đến công an phường G trình báo sự việc trên.
Sáng ngày 05/6/2024, T đến Công an quận N đầu thú về hành vi trên và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mi 9T Pro đã qua sử dụng có lắp sim số đã chiếm đoạt của H.
Tại bản kết luận định giá số 36/KL-HĐĐGTS ngày 26/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận N kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mi 9T Pro đã qua sử dụng đến thời điểm bị xâm hại tài sản có giá 1.200.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 253/CT-VKSNQ ngày 12 tháng 9 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
2
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 168; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cướp tài sản. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu về dân sự nên không xem xét giải quyết.
- - Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
- Về tội danh:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/6/2024, tại khu vực hồ T, phường G, quận N, Hải Phòng, Hoàng Văn T đã dùng vũ lực đối với anh Lê Xuân H để chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mi T9 Pro trị giá 1.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp, sức khỏe của người khác, đủ yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
3
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã ra đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại cũng có lỗi; bố bị cáo là ông Hoàng Văn R được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; mẹ bị cáo là bà Lương Thị T1 được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nên bị cáo Hoàng Văn T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[7] Theo khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo có thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
[8] Bị cáo đã tự nguyện bồi thường về tổn thất tinh thần cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về những vấn đề khác:
[10] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mi 9T Pro đã qua sử dụng có lắp sim số, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Xuân H. Hội đồng xét xử xét thấy việc xử lý của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 168; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn T;
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4
Giao bị cáo Hoàng Văn T cho Ủy ban nhân dân phường G, quận N, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hoàng Văn T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:
- “1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- 2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- 3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
- 4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.”
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Văn T kể từ ngày tuyên án.
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Hoàng Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
6
7
Bản án số 255/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự về tội cướp tài sản
- Số bản án: 255/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thụ lý 250
