Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2024/HS-ST

Ngày: 22/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Với thành phần Hội

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hùng Minh Sang.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Nguyễn Văn Ngẫu.
  • + Bà Lê Thị Ánh Sáng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Xuân Lâm, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Ông Trần Tiến Dũng, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 21 và ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 243/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2024/QĐSXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Tín N, sinh năm: 1999. Tại tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Nơi đăng ký thường trú: tổ A, ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam.

Số CMND/ thẻ CCCD/ Hộ chiếu số: [...], cấp ngày 25/8/2020. Nơi cấp Cục CSQLHC về TTXH.

Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 05/12.

Con ông Võ Trường V và bà Nguyễn Thị M.

Gia đình có 03 anh em. Bị cáo là con thứ 01 trong gia đình.

Chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự không.

Bị tạm giữ từ ngày 30/7/2024, chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện L.

- Bị hại:

Anh Lê Quốc H, sinh năm 2000.

Nơi cư trú: số A, đường A, khu phố A, P. L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Phạm Thị Ngọc Đ, sinh năm 1991.

Nơi cư trú: tổ A, ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Anh Võ Minh T, sinh năm 1987. Nơi cư trú: số A Đ, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Ông Phạm Văn L, sinh năm 1966.

Nơi cư trú: tổ A, ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Ông Võ Trường V, sinh năm 1971.

Nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Chị Phạm Thị Thùy D, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: ấp X - Bà Ký, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(ông V có mặt, anh H, chị Đ, anh T, ông L, chị D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo N đã 03 lần thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Lần 01: Vào lúc 7 giờ 26 phút ngày 23/7/2024, N sử dụng Facebook của mình tên “Trang Hao” lên mạng xã hội tìm người bán hải sản online để lừa đảo. N tìm thấy trang Facebook "Diep Thuy" của chị Phạm Thị Ngọc Đ, đăng bài bán hải sản nên N nhắn tin cho chị Đ giả vờ đặt mua 10kg cua Cà Mau loại 03con/kg và 10kg cua Cà Mau loại 04con/kg để chiếm đoạt. Sau khi thoả thuận xong, N hẹn chị Đ chở tới N Thái Lan thuộc phường T, Thành phố B. Đến 07 giờ 30 phút ngày 24/7/2024, ông Phạm Văn L (là bố của chị Đ) chở đến N Thái Lan giao cho N 02 thùng hải sản như đã hẹn. N yêu cầu ông L tách ra 01 thùng 9,6kg cua Cà Mau loại 03 con/kg và 1,5kg cua Cà Mau loại 04con/kg, số cua còn lại cho vào 01 thùng, N nói với ông L đưa thùng 9,6kg của Cà Mau loại 03con/kg và 1,5kg cua Cà Mau loại 04con/kg cho N chở, N điều khiển xe mô tô biển số 60F2-102.06 chở theo thùng cua, rồi dẫn đường cho ông L, nói dối ông L đến hầm rượu T&T thuộc xã A, huyện L để giao nhận hàng. Khi tới nơi, H1 rượu T&T đóng cửa nên N nói dối ông L đứng chờ còn N đi tìm cân để cân hải sản, rồi N điều khiển xe mô tô biển số 60F2-102.06 cùng thùng hải sản ông L đưa N chở trốn thoát. Sau đó, N đã bán toàn bộ số hải sản này cho người đi đường (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 2.000.000đồng sử dụng tiêu xài cái nhân.

Lần 02: Bằng thủ đoạn tương tự, vào ngày 25/7/2024, N sử dụng Facebook tên "Trang Hao” và nhắn tin qua M1 cho F "Quoc Huy” của anh Lê Quốc H giả vờ đặt mua 15kg cua Cà Mau loại 04con/kg, thì anh H đồng ý, N hẹn anh H đến Ngã Ba Thái Lan thuộc phường T, Thành phố B giao hàng. Đến 8 giờ 30 phút ngày 26/7/2024, N đón anh H tại Ngã Ba Thái Lan, N nói anh H tách cua thành hai thùng, một thùng 10kg và một thùng 05kg, sau khi tách xong thì N điều khiển xe mô tô biển số 60F2-102.06 chở thùng cua 10kg còn anh H chở thùng cua 05 kg, rồi cả hai đến Hầm rượu T&T thuộc xã A, huyện L. Khi tới nơi, H1 rượu đóng cửa nên N nói dối anh H cửa trước hầm rượu có mở nên kêu anh H lên đó đứng chờ, còn N đi tìm cân để cân hải sản. Tưởng thật, anh H đi lên cửa trước hầm rượu T1, lúc này N điều khiển xe mô tô biển số 60F2-102.06 chở theo thùng cua 10kg tẩu thoát. Sau đó, N đã bán toàn bộ số hải sản này cho người dân dọc đường (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 1.000.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Lần 03: Cùng với thủ đoạn trên, lúc 19 giờ 40 phút ngày 26/7/2024, N tiếp tục sử dụng tài khoản Facebook "Trang Hao” nhắn tin cho tài khoản Facebook "Trung Cua” của anh Võ Minh T đặt mua 05kg tôm hùm bông loại 0,5kg/con và 15kg cua thịt loại 0,5kg/con và yêu cầu anh T giao tới nhà hàng “Hoàng Minh" thuộc xã L, huyện L. Đến khoảng 07 giờ ngày 27/7/2024, anh T đến nhà hàng “Hoàng Minh” thì thấy N đang chờ sẵn, N nói anh T tách 15kg cua thịt ra làm 02 bịch nilong (một bịch 5,7kg và một bịch 9,3kg cua thịt). Sau đó N nói với anh T là đưa N bịch 05kg tôm hùm và bịch 5,7kg cua thịt cho N chở giúp, N điều khiển xe mô tô biển số 60C2-514.96 chở theo cua và nói dối anh T tới Nhà hàng G thuộc khu P, thị trấn L giao bịch cua thịt trên, khi tới nhà hàng thì N nói với anh T mang bịch 9,3kg cua thịt giao cho nhà hàng 779 có người nhận, còn N ở ngoài chờ. Lợi dụng lúc anh T mang bịch cua đi vào nhà hàng trên thì N ở ngoài điều khiển xe chở 05kg tôm hùm bông và bịch cua 5,7kg của thịt tẩu thoát. Sau đó, N đã bán toàn bộ số hải sản này cho người dọc đường (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) được 2.200.000 đồng tiêu xài cái nhân.

Sau khi bị can chiếm đoạt tài sản, các bị hại làm đơn trình báo đến Cơ quan Công an, ngày 30/7/2024, N đến Công an thị trấn L đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của mình, Công an thị trấn L hồ sơ chuyển đến Cơ quan điều tra Công an huyện L để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng vụ án:

  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu đen, đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Winner, màu đỏ đen.
  • + 01 biển số 60F2-102.06.
  • + 01 (một) xe mô tô biển số 60C2-514.96, số máy: KC26E1086027, số khung: RLHKC2607GY053843, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen.
  • + Số tiền 6.000.000 đồng.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS ngày 06/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết luận: 05kg tôm hùm bông (loại trọng lượng khoảng 0,5kg/con) trị giá 5.000.000 đồng; 5,7kg cua thịt (loại trọng lượng 0,4 đến 0,5kg/con) trị giá 2.390.000đồng. Tổng cộng trị giá tài sản: 7.390.000 đồng.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết luận: 10kg cua Cà Mau (trọng lượng loại 0,25kg/con) trị giá 3.800.000đồng.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết luận: 9,6kg cua Cà Mau (trọng lượng loại 03con/kg) trị giá: 3.360.000đồng; 1,5kg cua Cà Mau (trọng lượng loại 04con/kg) trị giá 465.000đồng. Tổng cộng trị giá 3.825.000đồng.

Bản cáo trạng số: 238/CT-VKS-LT ngày 22/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Võ Tín N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản' theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành vẫn bảo lưu quan điểm truy tố đối với bị cáo Võ Tín N tại Bản cáo trạng số: 238/CT-VKS-LT ngày 22/10/2024. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Tín N mức án từ 12 đến 14 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, nên không xem xét.

Xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu đen, đã qua sử dụng là tài sản của Võ Tín N sử dụng vào việc phạm tội, cần tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Winner, màu đỏ đen gắn biển số 60F2-102.06 được N mua lại tại một tiệm phế liệu (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 1.500.000đồng, không có giấy tờ đăng ký xe. Qua tra cứu thông tin số khung, số máy của xe mô tô trên không xác định được chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tiếp tục xác minh, làm rõ nguồn gốc xử lý sau.
  • + Đối với 01 biển số 60F2-102.06 do anh Châu Hữu V1, sinh năm 1987, cư trú: 49A/5, khu phố D, xã A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc anh V1 trình bày quá trình sử dụng xe thì anh có làm rơi biển số 60F2-102.06, hiện biển số không còn giá trị sử dụng nên chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành tạm giữ, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy.
  • + 01 (một) xe mô tô biển số 60C2-514.96, số máy: KC26E1086027, số khung: RLHKC2607GY053843, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã trả lại cho Võ Trường V (xe này ông V mua lại của chị Phạm Thị Thùy D nhưng chưa sang tên) ông V cho N mượn làm phương tiện đi lại chứ không biết N sử dụng xe liên quan việc phạm tội.

Đối với số tiền 6.000.000 đồng tạm giữ của N là tài sản do N tích góp trước khi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L trả lại cho bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định.

Vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo N đã thực hiện các hành vi phạm tội như sau:

Lần 01: Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 24/7/2024, tại ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Võ Tín N đã dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Phạm Thị Ngọc Đ gồm 9,6kg cua Cà Mau loại 03con/kg và 1,5kg cua Cà Mau loại 04 con/kg.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 94/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết luận: 9,6kg cua Cà Mau (trọng lượng loại 03con/kg) trị giá: 3.360.000đồng; 1,5kg cua Cà Mau (trọng lượng loại 04con/kg) trị giá 465.000đồng. Tổng cộng trị giá 3.825.000đồng.

Lần 02: Lúc 08 giờ 30 phút, ngày 26/7/2024, tại ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, với thủ đoạn tương tự Võ Tín N đã dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Lê Quốc H gần 10kg cua Cà Mau loại 04con/kg.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết luận: 10kg cua Cà Mau (trọng lượng loại 0,25kg/con) trị giá 3.800.000đồng.

Lần 03: Lúc 07 giờ 00 phút, ngày 27/7/2024, tại khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, cùng thủ đoạn trên Võ Tín N đã dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Võ Minh T gồm 05kg tôm hùm bông và bịch 5,7kg cua thịt.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS ngày 06/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết luận: 05kg tôm hùm bông (loại trọng lượng khoảng 0,5kg/con) trị giá 5.000.000 đồng; 5,7kg cua thịt (loại trọng lượng 0,4 đến 0,5kg/con) trị giá 2.390.000đồng. Tổng cộng trị giá tài sản bị chiếm đoạt: 7.390.000 đồng.

Tổng giá trị tài tài sản do N chiếm đoạt cả 03 lần được xác định là 15.015.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo không thắc mắc gì đối với các kết luận định giá tài sản.

Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật bảo vệ, mặt khác còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi bị cáo gây án. Bị cáo đã thực hiện tội phạm bất chấp sự trừng trị của Pháp luật, vụ án bị phát hiện là ngoài ý thức mong muốn của bị cáo, bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản của các bị hại, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuy nhiên, cần xem xét cho bị cáo N quá trình điều tra và trước phiên tòa công khai đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N. Do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Trách nhiệm dân sự:

Giữa bị cáo, bị hại anh H, chị Đ và anh T đã thỏa thuận bồi thường xong, các bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu đen, đã qua sử dụng là tài sản của Võ Tín N sử dụng vào việc phạm tội, cần tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Winner, màu đỏ đen được N mua lại tại một tiệm phế liệu (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 1.500.000đồng, không có giấy tờ đăng ký xe. Qua tra cứu thông tin số khung, số máy của xe mô tô trên không xác định được chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tiếp tục xác minh, làm rõ nguồn gốc xử lý sau.
  • + Đối với 01 biển số 60F2-102.06 do anh Châu Hữu V1, sinh năm 1987, cư trú: 49A/5, khu phố D, xã A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc anh V1 trình bày quá trình sử dụng xe thì anh có làm rơi biển số 60F2-102.06, hiện biển số không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, biển số 60C2-514.96, số máy: KC26E1086027, số khung: RLHKC2607GY053843, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã trả lại cho Võ Trường V (ông V mua lại của chị Phạm Thị Thùy D nhưng chưa sang tên), qua làm việc với chị D, chị D xác định đã bán lại cho ông V, thuộc quyền sở hữu của ông V. ông V cho N mượn làm phương tiện đi lại không biết N sử dụng xe làm phạm tội. Việc giao trả cho ông V là đúng quy định pháp luật.

(01 điện thoại hiệu Oppo A5 màu đen và 01 biển số 60F2 – 102.06, hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 23/10/2024)

Đối với số tiền 6.000.000 đồng tạm giữ của N là tài sản do N tích góp trước khi phạm tội, không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L trả lại cho bị cáo là đúng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Võ Tín N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Võ Tín N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 30/7/2024.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Võ Tín N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu đen.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 biển số xe mô tô số 60F2-102.06.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

VKSND.H Long Thành (1). Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Công an H Long Thành (1).

THA (1).

Bị cáo (1).

Người bị hại (3).

Người có QLNVLQ (2).

Lưu hồ sơ (1).

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hùng Minh Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 255/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger