|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 255/2023/HS-ST
Ngày: 03-11-2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Dũng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trí Dũng, ông Lại Hữu Tâm
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 245/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn L; Giới tính: N; Sinh năm 2000 tại tỉnh An Giang; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; Chổ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Mỹ T1. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 08/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xử phạt 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 24/2017/HSST.
- + Ngày 26/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 24/2017/HSST buộc Trần văn L1 chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 01 năm 02 tháng tù (theo Bản án số 15/2018/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/6/2019.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2023 đến nay (có mặt).
- * Bị hại: Ông Bùi Huy D, sinh năm: 1986; Nơi cư trú: C11/19I ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1987 - Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ 367. Địa chỉ: C đường A, Phường A, Quận F Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà Y: ông Bùi Văn T2, sinh năm 1983; Nơi cư trú 367 đường A, Phường A, Quận F Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Cẩm N1, sinh năm: 1993; Nơi cư trú: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).
- * Người làm chứng: Bà Đoàn Thị N2, sinh 1992; C11/19I ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/5/2023, Trần Văn L cùng uống rượu bia với ông Bùi Huy D, ông Nguyễn Văn T3 tại Phòng số 1 nhà trọ địa chỉ Cấp C xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, ông Bùi Huy D đi ngủ, ông Nguyễn Văn t đi đâu không rõ. Lúc này, Trần Văn L thấy ông D ngủ say nên nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số 69N1-550.63 của ông Bùi Huy D đăng dựng trong phòng trọ. Sau đó, Trần Văn L lén lút lấy chìa khoá xe của ông D mở khoá xe dắt ra ngoài phòng rồi khởi động máy điều khiển xe đến tiệm cầm đồ tại địa chỉ C đường A, phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cầm cố cho ông Bùi Văn T2 với giá 12.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày ông D phát hiện mất xe nhưng không trình báo cơ quan công an.
Ngày 11/6/2023 ông D phát hiện Trần Văn L tại xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên đưa Trần Văn L về trình báo công an xã T, huyện B về việc mất trộm xe như đã nêu trên. Công an xã lập hồ sơ ban đầu và chuyển vụ việc đến Cơ quan điều tra công an huyện B xử lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 1855/KL-HĐĐGTS ngày 23/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 01 xe máy Exciter màu đỏ đen, biển số 69N1-550.63 (số khung: 1010KY122281, số máy: G3D4B888710) đã qua sử dụng, có giá trị 26.880.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Trần Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 246/CT-VKS ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với ông Bùi Văn T2 nhận cầm xe mô tô biển số 69N1-550.63 nhưng không biết xe này do Trần Văn L phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- - Về vật chứng:
- + 01 xe máy Exciter màu đỏ đen, biển số 69N1-550.63 ( số khung: 1010KY122281, số máy: G3D4B888710) bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho ông Bùi Huy D nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
- + Đề nghị lưu giữ hồ sơ vụ án 01 biên nhận khách ký gửi tài sản cầm của dịch vụ cầm đồ Đức Tạo ngày 17/5/2023 (Tài liệu lưu cùng hồ sơ vụ án).
- + Về dân sự: đề nghị ghi nhận bị hại Bùi Huy D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T2 không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa thì có căn cứ xác định như sau: Ngày 17/5/2023, tại nhà trọ địa chỉ C ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Trần Văn L có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe môtô nhãn hiệu Exciter biển số 69N1-550.63 của ông Bùi Huy D. Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B thì xe môtô bị chiếm đoạt trị giá là 26.880.000 đồng (hai mươi sáu triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) đồng nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, bị cáo biết việc trộm cắp tài sản hợp pháp của người khác là trái với quy định của pháp luật nhưng vì vụ lợi mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017). Xét thấy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu năm 2017 và năm 2018 bị Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản nhưng đến thời điểm phạm tội trong vụ án này được coi là đã xoá án tích nên không xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm nhưng cần lưu ý về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ các tài sản bị chiếm đoạt là tài sản hợp pháp của bị hại và đã trả lại tài sản cho bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét;
[7] Về dân sự: tại phiên tòa bị hại ông Bùi Huy D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Bùi Văn T2 vắng mặt nhưng hồ sơ thể hiện ông Bùi Huy D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu bồi thường về dân sự và ông Bùi Văn T2 cũng không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đối với số tiền 12.000.000 đồng bị cáo cầm xe mô tô trộm cắp của bị hại cho ông Bùi Văn T2 rồi tiêu xài cá nhân. Quá trình điều tra ông Bùi Văn T2 trình bày không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự. Xét thấy, số tiền này là tiền bị cáo có được từ việc phạm tội, từ việc cầm cố tài sản trộm cắp mà có nên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) buộc bị cáo nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- * Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- * Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Buộc bị cáo nộp lại số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng, nộp vào Ngân sách nhà nước.
- - Về án phí: Bị cáo chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- - Bị cáo và đương sự, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án; Đương sự, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Xử phạt bị cáo Trần Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2023.
|
Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh. - Công an H. Bình Chánh; - VKSND H. Bình Chánh; - THA dân sự H.Bình Chánh; - PC 53- Công an TPHCM; - Sở Tư pháp TPHCM; - Bị cáo, đương sự, bị hại; - Lưu HS; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Dũng |
Bản án số 255/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 255/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Liêm
