|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 254/2024/HS-ST Ngày 21/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên, ông Ngô Văn Lưu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 255/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Vũ Văn H, sinh năm 1975
HKTT: Khu X, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông Vũ Văn S, sinh năm 1943 (đã chết) và bà Dương Thị C, sinh năm 1950; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;
Vợ: Lê Thị T, sinh năm 1991, đã ly hôn; con: Không có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 284/HSST ngày 22/10/2013 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo ra trại ngày 15/8/2015, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 27/12/2013.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Trọng T, sinh năm 1998;
HKTT: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
Nơi ở trước khi phạm tội: Thôn O, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông Lê Trọng M, sinh năm 1968 và bà Lê Thị N, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình
Vợ: Kha Thị T, sinh năm 1998
Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2023
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 20 phút ngày 28/3/2024, tại khu X, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Bắc Ninh bắt quả tang Lê Trọng T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:
- Tại túi quần nhỏ bên phải phía trước T đang mặc 01 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói ma túy trong phong bì theo quy định.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 có số máy: MQxxxLL/A kèm simcard số 0332093xxx của T.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, T khai nhận số ma túy trên là T vừa mua của một người đàn ông có số điện thoại 0973079xxx ở khu X, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh với giá 300.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã tiến hành xác minh, triệu tập Vũ Văn H đến làm việc. Vào hồi 15 giờ 05 phút cùng ngày, H đã tự nguyện đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội bán trái phép chất ma túy cho T vào hồi 14 giờ 10 phút cùng ngày. Quá trình đầu thú, H đã tự nguyện giao nộp:
- 01 gói bọc bằng giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. H khai nhận đây là số ma túy mà H cất giấu để bán kiếm lời. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu M1 theo quy định.
- Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 300.000 đồng, trong đó có 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, trên hai tờ tiền đều có ghi chữ “Tam”. H khai nhận đây là số tiền H đã bán ma túy cho T mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành niêm phong số tiền này vào phong bì ký hiệu M2 theo quy định.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu gold có số Imei: 865251033005xxx kèm simcard 0973079xxx là điện thoại của H đã liên lạc bán ma túy cho T.
Hồi 20 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn H tại khu X, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình khám xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, tại bản Kết luận giám định số 880/KL-KTHS ngày 30/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1136 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine
Heroine (Heroin) là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.”
Tại bản Kết luận giám định số 881/KL-KTHS ngày 30/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“+ Chất bột màu trắng bên trong 01 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng là 0,1280 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine
Heroine (Heroin) là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.
+ 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2 là tiền thật”
Căn cứ lời khai của các bị cáo và tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh thu thập có trong hồ sơ, xác định:
Do không có công việc ổn định, không có thu nhập nên Vũ Văn H đã nảy sinh ý định mua ma túy về bán để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 09 giờ ngày 28/3/2024, H mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực thị xã V, tỉnh Bắc Giang 300.000 đồng ma túy Heroine được 02 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng. Sau đó, H cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi quần để có ai hỏi mua thì sẽ đem bán kiếm lợi nhuận. Khoảng 13 giờ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Lê Trọng T đã đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết từ huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đến thành phố Bắc Ninh tìm mua ma túy. Khi đi đến thành phố B, T đã sử dụng điện thoại số 0332093xxx gọi vào số điện thoại 0973079xxx của H hỏi mua 300.000 đồng ma túy Heroine. H bảo T chờ một lát sẽ gọi lại. Khoảng 10 phút sau, H gọi lại vào số điện thoại của T hẹn đến đầu ngõ ở dốc P thuộc khu X, phường Đ để giao dịch. Khi này, T đã ở gần khu vực nói trên nên T đi bộ đến dốc P để gặp H. Tại đây, T đưa cho H số tiền 300.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (trên hai tờ tiền đều ghi chữ “Tam”). H cầm tiền cất vào túi quần bên phải rồi đưa cho T 01 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, sau đó H đi về nhà. T biết đây là ma túy Heroine nên cất vào túi quần nhỏ phía trước bên phải rồi đi bộ xuống dốc để bắt xe ôm đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đi được một đoạn thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã tiến hành kiểm tra 02 chiếc điện thoại thu giữ của H và T, xác định: Tại phần nhật ký cuộc gọi có cuộc gọi đi đến từ số điện thoại 0973079xxx đến số điện thoại 0332093xxx vào hồi 13 giờ 48 phút và hồi 14 giờ ngày 28/3/2024.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 184/CT-VKSTPBN ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Vũ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, truy tố Lê Trọng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn H và Lê Trọng T khai nhận sáng ngày 28/3/2024 H mua của một người đàn ông không quen biết ở thị xã V, tỉnh Bắc Giang 300.000 đồng ma túy heroine được 02 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng để bán kiếm lợi nhuận. Cùng ngày, H bán cho T 300.000 đồng ma túy gồm 01 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng để T sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ ma túy. Các bị cáo thừa nhận Bản cáo trạng truy tố bị cáo Vũ Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy và bị cáo Lê Trọng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố phát biểu luận tội đã giữ nguyên cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã có đủ cơ sở kết luận Vũ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Lê Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo Lê Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn H từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/3/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Trọng T từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho cả hai bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) phong bì đựng mẫu vật theo kết luận giám định số 880/KL-KTHS ngày 30/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh;
- - 01 (một) phong bì đựng mẫu vật theo kết luận giám định số 881/KL-KTHS ngày 30/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8, màn hình bị dập vỡ, không kiểm tra được imei và tình trạng máy;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số imei: 865251033005xxx, máy đã cũ;
- - 300.000 đồng tiền Việt Nam được nộp vào tài khoản 3949.0.1054949.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh mở tại Kho bạc Nhà nước Bắc Ninh qua Ngân hàng Vietcombank ngày 23/7/2024.
Tịch thu tiêu hủy 02 sim số: 0332.093.xxx, 0973.079.xxx.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Văn H và Lê Trọng T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố là đúng, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 14 giờ 20 phút ngày 28/3/2024, tại khu X, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Bắc Ninh bắt quả tang Lê Trọng T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1136 gam ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. T khai nhận số ma túy trên do T mua của Vũ Văn H. Cùng ngày, Vũ Văn H đã tự nguyện đến đầu thú và giao nộp 0,1280 gam ma túy Heroine, H khai nhận số ma túy trên H cất giấu để bán kiếm lợi nhuận. Tổng khối lượng ma túy H bán cho T và cất giấu để bán là 0,2416 gam ma túy Heroine.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Lê Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân các bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe, biết rõ tác hại của ma túy lên cơ thể và tinh thần nhưng không chịu lao động mà lại sử dụng và mua bán ma túy. Bị cáo H đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài H cho mình mà tiếp tục phạm tội liên quan tới ma túy. Điều này cho thấy các bị cáo là người có thái độ coi thường pháp luật. Do vậy, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi mà bị cáo đã phạm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đối với bị cáo Vũ Văn H đã tự nguyện đến cơ quan công an đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, do đó cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, biết tuân thủ pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hai bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả hai bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 (một) phong bì đựng mẫu vật theo kết luận giám định số 880/KL-KTHS ngày 30/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh và 01 (một) phong bì đựng mẫu vật theo kết luận giám định số 881/KL-KTHS ngày 30/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là ma túy, được quy định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8, màn hình bị dập vỡ, không kiểm tra được imei và tình trạng máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số imei: 865251033005xxx, máy đã cũ là công cụ, phương tiện để các bị cáo trao đổi, liên hệ với nhau về việc mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 02 sim số: 0332.093.xxx, 0973.079.xxx không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 300.000 đồng tiền Việt Nam được nộp vào tài khoản 3949.0.1054949.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh mở tại Kho bạc Nhà nước Bắc Ninh qua Ngân hàng Vietcombank ngày 23/7/2024 là tiền các bị cáo giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[6] Về các đối tượng có liên quan trong vụ án:
Đối với người đàn ông theo bị cáo H khai bán ma tuý cho H tại khu vực thị xã V, tỉnh Bắc Giang nhưng bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo Vũ Văn H);
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo Lê Trọng T);
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 329, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Lê Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Vũ Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/3/2024.
Xử phạt: Lê Trọng T 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/3/2024.
Quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/8/2024 để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) phong bì đựng mẫu vật theo Kết luận giám định số 880/KL-KTHS ngày 30/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
- - 01 (một) phong bì đựng mẫu vật theo Kết luận giám định số 881/KL-KTHS ngày 30/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8, màn hình bị dập vỡ, không kiểm tra được imei và tình trạng máy;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số imei: 865251033005xxx, máy đã cũ;
- - 300.000 đồng tiền Việt Nam được nộp vào tài khoản 3949.0.1054949.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh mở tại Kho bạc Nhà nước Bắc Ninh qua Ngân hàng Vietcombank ngày 23/7/2024.
Tịch thu tiêu hủy 02 sim số: 0332.093.xxx, 0973.079.xxx.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 226 ngày 23/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh)
3. Về án phí: Các bị cáo Vũ Văn H và Lê Trọng T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Vũ Minh Trang |
Bản án số 254/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 254/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn H và đồng phạm phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
