Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 254/2024/DS-PT

Ngày 27 -11- 2024

V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ

Ông Trịnh Hoàng Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Trứ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vẹn - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 181/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 302/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 281/2024/QĐ- PT ngày 07 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Thế V, sinh năm 1968 (có mặt);
  2. Địa chỉ: Tổ I ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  3. Bị đơn: Bà Trần Thị K, sinh năm 1980 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà K:

    Ông Huỳnh Ngọc P, sinh năm 1981 (có mặt);

    Địa chỉ: Tổ F, khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị L, sinh năm 1968 (có mặt);
  6. Địa chỉ: Tổ I ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

-Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Kim

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Trần Thế V trình bày và xác định yêu cầu khởi kiện như sau:

Năm 2021, bà Trần Thị K có chơi một phần hụi 5.000.000 đồng/tháng do bà Trần Thị L (vợ ông V) làm chủ. Bà Kim Đ tiền hụi đến khi mãn hụi ngày 25/10/2022 là 17 tháng. Do bà L phải đi bệnh viện chăm sóc mẹ nên bà L đã nói với ông V nếu ai đến hốt hụi thì ông V tạm ứng tiền cho họ trước.

Ngày 09/11/2022, bà K đến hốt hụi thì ông V tạm ứng trước cho bà K số tiền 60.000.000 đồng. Khi đưa tiền, ông V có ghi chú vào sổ tay của ông V với nội dung: “Ngày 9/11/22 Cô K có nhận 60.000.000 VNĐ (Sáu mươi triệu đồng chẵn)”, bà K có ký nhận phía dưới, đồng thời ông V nói khi bà K gặp bà L thì nhớ trừ hoặc trả lại cho ông V số tiền này để ông V xóa sổ. Do tiền tạm ứng trước nên hai bên không ghi thỏa thuận về lãi suất và thời hạn trả trong giấy biên nhận. Vì ít quan tâm đến công việc làm ăn chơi hụi của bà L nên khi bà K đến nhận tiền hụi lúc nào thì ông V không biết. Sau khi bà L chăm mẹ về nhà thì ông V cũng không nói gì về việc bà K đã nhận trước số tiền 60.000.000 đồng. Bà K cũng không nói với bà L về việc đã nhận số tiền này. Vì vậy, bà L đã tính tiền hụi và đưa cho bà K số tiền hụi hốt chót là 83.500.000 đồng mà không trừ ra số tiền 60.000.000 đồng bà K đã nhận từ ông V trước đó. Bà K cũng không trả lại cho ông V số tiền này. Việc bà L đưa số tiền hụi 83.500.000 đồng cho bà K thì ông V cũng không biết có làm giấy tờ biên nhận gì không. Ông V và bà L có đến gặp bà K để đòi lại tiền thì bà K không chịu trả.

Ông V yêu cầu bà K phải trả lại cho ông V số tiền 60.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 09/11/2022 đến khi xét xử vụ án, với mức lãi suất là 10%/năm. Tuy nhiên sau đó ông V đã rút yêu cầu về tính tiền lãi.

Bị đơn bà Trần Thị K trình bày:

Ông Trần Thế V cùng vợ là bà Trần Thị L có tổ chức làm chủ dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 17 phần. Bà Kim C 01 phần và hốt chót, tính toán được 85.000.000 đồng.

Ngày 09/11/2022, bà K đến nhà ông V bà L để lấy tiền hụi. Lúc này bà L không có ở nhà nên ông V có đưa cho bà K số tiền 60.000.000 đồng và được ghi lại trong sổ hụi, ông V ký tên vào. Ông V nói đưa cho bà K trước, có gì bà L về sẽ tính lại sau.

Ngày 11/11/2022, bà L qua nhà bà K tính toán tiền hụi. Bà K nói có nhận trước 60.000.000 đồng từ ông V vào ngày 09/11/2022 nên bà L đưa thêm cho bà K 23.500.000 đồng (sau khi đã trừ đi 1.500.000 đồng tiền công đi thu tiền mỗi tháng). Như vậy bà K đã nhận đủ số tiền là 83.500.000 đồng từ ông V và bà L. Sau đó, bà L trực tiếp gạch đi nội dung bà K đã nhận 60.000.000 đồng vào ngày 09/11/2022 trong sổ hụi.

Khoảng 04 tháng sau, không biết lý do gì, ông V và bà L sang nhà bà K đòi số tiền 60.000.000 đồng. Ông bà cho rằng ngày 09/11/2022, bà K đã mượn số tiền 60.000.000 đồng từ ông V, không liên quan đến tiền hụi của bà K. Ông bà khẳng định ngày 11/11/2022 đã đưa cho bà K đủ số tiền hụi là 83.500.000 đồng. Theo bà K thì quá trình chơi hụi bà đã nộp tiền hụi đúng ngày, bà nhận từ ông V bà L tổng số tiền là 83.500.000 đồng (gồm 60.000.000 đồng ông V đưa và 23.500.000 đồng bà L đưa), bà K không lấy dư của ông V bà L đồng nào. Do vậy bà K không đồng ý trả số tiền 60.000.000 đồng theo yêu cầu của ông V.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L trình bày:

Bà là vợ của ông Trần Thế V. Năm 2021, bà có tổ chức chơi 01 dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, bà Trần Thị Kim tham G 01 phần và đóng được 17 tháng tiền hụi (từ ngày 25/5/2021 đến ngày 25/10/2022 thì mãn hụi). Do bà phải đi bệnh viện chăm sóc mẹ nên bà nói với ông V nếu ai đến hốt hụi thì tính ứng tiền trước cho họ.

Ngày 09/11/2022, bà K đến lấy tiền hụi thì ông V tạm tính và đưa trước cho bà K số tiền là 60.000.000 đồng. Sau khi chăm mẹ về, bà không hỏi và ông V cũng không nói là đã ứng trước số tiền hụi 60.000.000 đồng cho bà K. Vì vậy, bà đã đưa cho bà K số tiền hụi là 83.500.000 đồng. Sau khi biết chuyện, bà và ông V có đến gặp bà K để đòi lại 60.000.000 đồng thì bà K không chịu trả.

Đối với tờ giấy nhỏ người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cung cấp thì bà L xác nhận mỗi lần bà K đóng tiền hụi thì ghi chú vào và bà L ký nhận, nhưng bà K còn 01 tờ giấy thể hiện bà L đã giao tiền hụi 83.500.000 đồng cho bà Kim M nay bà K không cung cấp cho Tòa án. Ngoài ra, bà không có giấy tờ gì thể hiện việc bà đã giao số tiền hụi 83.500.000 đồng cho bà K.

Bà L xác nhận số tiền 60.000.000 đồng ông V đưa cho bà K là tiền riêng của ông V, không phải là tiền chung của vợ chồng nên bà L không có yêu cầu độc lập gì liên quan đến vụ án, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V, buộc bà K phải trả cho ông V số tiền là 60.000.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thế V đối với bà Trần Thị Kim V1 việc yêu cầu tính lãi suất.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thế V đối với bà Trần Thị Kim V1 việc yêu cầu đòi lại tài sản.
  3. Buộc bà Trần Thị K phải trả lại cho ông Trần Thế V số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 25-6-2024, Bà Trần Thị Kim N đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại cấp phúc thẩm:

Bị đơn bà Trần Thị Kim G1 nguyên yêu cầu kháng cáo.

Nguyên đơn ông Trần Thế V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

-Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định. Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Kim N trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị K:
    1. [2.1] Qúa trình tố tụng bà Trần Thị L và bà Trần Thị Kim Đ1 thừa nhận bà K có tham gia chơi dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở vào ngày 25-5-2021 và mãn hụi vào ngày 25-10-2022. Bà K đã đóng tiền hụi đầy đủ và là người hốt hụi chót với số tiền được tính toán là 83.500.000 đồng.
    2. [2.2] Bà L và bà K cũng xác định quá trình chơi hụi, bà L mở 02 quyển sổ để bà và hụi viên mỗi bên giữ 01 quyển tự theo dõi quá trình đóng hụi và hốt hụi. Cụ thể trong các quyển sổ sẽ ghi thời gian, số tiền đóng hụi hàng tháng. Trong đó sổ hụi viên giữ được bà L ký xác nhận. Khi hụi viên hốt hụi thì bà L sẽ gạch chữ “R” các mục này.

Bà L còn cho rằng khi hụi viên hốt hụi thì trong sổ bà L tự theo dõi sẽ có ký nhận của hụi viên về việc nhận số tiền hốt hụi, tuy nhiên bà K không thừa nhận lời trình bày này của bà L.

    1. [2.3] Ông V và bà K đều thừa nhận khi ông V đưa bà K số tiền 60.000.000 đồng thì ông V ghi chú nội dung “V có đưa cho cô K 60.000.000 VNĐ (sáu mươi triệu đồng chẵn)” và ký xác nhận nội dung này trong sổ hụi bà Kim tự theo dõi (BL 20-TA) và cũng viết nội dung “ Ngày 9/11/22 cô K có nhận 60.000.000 VNĐ (sáu mươi triệu đồng chẵn)” bà K ký xác nhận nội dung này vào trong giấy theo dõi ông V giữ (BL 17 TA).

Ông V và bà L cùng xác định khi bà L giao hụi cho bà K đã giao đủ số tiền hụi được tính toán là 83.500.000 đồng mà không trừ ra số tiền 60.000.000 đồng ông V ứng cho bà K trước đó. Về phía bà K thì cho rằng bà L đã trừ ra số tiền 60.000.000 đồng nên chính bà L đã gạch chữ “R” vào nội dung “V có đưa cho cô K 60.000.000 VNĐ (sáu mươi triệu đồng chẵn”, tuy nhiên bà L không thừa nhận lời trình bày của bà K.

Ông V bà L cũng thừa nhận ngày 09-11-2022, bà K đến nhà ông bà để nhận tiền hụi. Do bà L phải đi chăm sóc mẹ bà ở bệnh viện nên khi đi, bà có dặn ông V ứng trước một khoản tiền cho bà K. Vì vậy, sau khi tự tính toán tiền hụi thì ông V đã ứng cho bà K số tiền 60.000.000 đồng theo các chứng cứ bên trên. Như vậy, việc ông V ứng số tiền 60.000.000 đồng cho bà K là theo yêu cầu của bà L. Đây là sự việc cả ông V và bà L đều biết trước. Tuy nhiên ông bà cho rằng sau khi bà L về, bà L không hỏi, ông V không nói việc ứng hụi nên bà L đã giao cả số tiền 83.500.000 đồng cho bà K mà không tính toán khấu trừ số tiền 60.000.000 đồng ứng trước cho đến khoảng thời gian sau mới biết sự việc và xảy ra tranh chấp giữa các bên là không phù hợp với thực tế.

    1. [2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm ông V bà L xác nhận ông V biết việc bà L tổ chức chơi hụi và có nhiều lần ông V là người nhận tiền hụi thay bà L. Như vậy, có cơ sở xác định được việc tổ chức chơi hụi của bà L thì ông V có tham gia, phù hợp với lời trình bày của bà K. Ông V và bà L cho rằng 60.000.000 đồng là khoản tiền riêng của ông V nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Điều này càng khẳng định thêm việc bà L ông V khai khi bà L giao hụi cho bà K đã không trừ đi số tiền 60.000.000 đồng ông V ứng hụi trước đó là không hợp lý.
    2. [2.5] Theo bà L thì việc bà L giao cho bà K số tiền hụi 83.500.000 được bà K xác nhận trong giấy tờ do cả bà L và bà Kim G1, tuy nhiên giấy tờ do bà L giữ đã bị thất lạc. Lời trình bày của bà L không được bà K thừa nhận. Bà K khai khi bà L giao số tiền hốt hụi chỉ gạch chữ “R” vào sổ tự theo dõi hụi bà Kim G1. Về phía bà L cũng không có chứng cứ chứng minh việc giao cho bà K số tiền 83.500.000 đồng.

Từ các phân tích trên, có cơ sở xác định khi bà L giao hụi cho bà K thì đã trừ số tiền 60.000.000 đồng mà ông V đã ứng trước đây. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V là không có căn cứ. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị K, sửa bản án sơ thẩm.

  1. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông V phải nộp án phí có giá ngạch trên yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận.

-Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị K được chấp nhận nên bà K không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị K; sửa bản án sơ thẩm số 72/2024/DS- ST ngày 19-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như sau:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thế V đối với bà Trần Thị Kim V1 việc yêu cầu tính lãi suất.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thế V v/v buộc bà Trần Thị Kim T lại số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Ông Trần Thế V phải nộp 3.000.000 (ba triệu) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 1.635.000 (một triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002619 ngày 30-11-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, nên ông V còn phải nộp tiếp số tiền 1.365.000 (một triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Trần Thị K không phải nộp. Hoàn trả lại cho bà K 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000912 ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  5. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27-11-2024).

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - TAND H. Xuyên Mộc;
  • - Chi cục THADS H. Xuyên Mộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 254/2024/DS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 254/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu KC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger