TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 254/2024/HS-ST Ngày: 19-11-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Thắng
- Bà Vũ Thị Thanh Hoa
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Công Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 247/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Hoàng Việt T, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1997; tại: Tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số D S, phường T (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Như C và bà Nguyễn Thị B; vợ con: Không; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/8/2014, Công an thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính Cảnh cáo về hành vi đánh nhau; Ngày 30/7/2019, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/10/2021. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09-7-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ, Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ tên: Nguyễn Văn L, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2005; tại: Tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm C, xã Đ (nay là xã N), huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C2; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09-7-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ, Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Bùi Sỹ C3, sinh năm 1986; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 05/05/2024, anh Bùi Sỹ C3, sinh năm 1986; trú tại: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cùng anh Bùi Văn T1, sinh năm 1989, trú tại: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; anh Phạm Danh Đ, sinh năm 1990; trú tại: Xóm C, xã N (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định; anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1989; trú tại: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; anh Trần Văn Đ1, sinh năm 1984; trú tại: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; anh Phạm Văn T2, sinh năm 1985; trú tại: 0 Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; anh Nguyễn Thế B1, sinh năm 1992; trú tại: 0 L, phường N (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định rủ nhau đến quán K số A đường V, xã N (nay là phường N), thành phố N để hát thì được anh Đinh Hoàng L1 là quản lý bố trí hát tại phòng 201. Anh Phạm Danh Đ đề nghị bố trí nhân viên nữ rót bia, bấm bài, nên anh L1 gọi cho Hoàng Việt T để điều nhân viên nữ đến. Một lúc sau, Hoàng Việt T điều khiển xe mô tô BKS 18B2-099.17 chở chị Triệu Thị N, sinh ngày 06/06/2006, trú tại 5 S, phường T (nay là phường N), thành phố N và Nguyễn Văn L (bạn T) điều khiển xe mô tô BKS 18B2-222.00 chở chị Cà Thị M, sinh ngày 18/12/2007, trú tại 5 S, phường T (nay là phường N), thành phố N đến. Trong quá trình ngồi hát, anh Bùi Sỹ C3 đòi sờ ngực chị N nhưng chị N không đồng ý, nên anh C3 dùng tay tát vào mặt chị N. Chị M thấy vậy đi đến hỏi anh C3 sao lại tát chị N thì anh C3 tiếp tục dùng tay tát vào mặt chị M. Chị M khóc bỏ ra ngoài gọi điện cho Hoàng Việt T thông báo bị khách đánh và bảo T sang đón về. Sau đó, T điều khiển xe mô tô BKS 18B2-099.17 chở L sang quán K.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, T và L vào quầy lễ tân tầng 1 của quán K hỏi chị M, chị N bị ai đánh thì chị N, chị M trả lời bị khách đánh. Lúc này, anh Phạm Danh Đ đang đứng gần đó nói với T để anh Đ giải quyết nhưng T không đồng ý và yêu cầu anh Đ gọi người đã đánh chị N, chị M xuống nói chuyện. Anh Đ lên phòng 201 gọi anh C3. Khi anh C3 đi xuống tầng 1, T và L yêu cầu anh C3 phải xin lỗi chị M, chị N nhưng anh C3 không đồng ý dẫn đến hai bên lời qua tiếng lại với nhau. Nhóm bạn đi cùng với anh C3 vào can ngăn đẩy anh C3 ra ngoài cửa. T đuổi theo dùng tay trái nắm vào vai trái của anh C3 kéo lại. Anh C3 quay lại dùng tay phải đấm 01 cái trúng vùng vai phải của T. Thấy vậy, nhóm bạn anh C3 tiếp tục can ngăn và đẩy anh C3 đi ra ngoài vỉa hè trước cửa quán. Anh C3 đứng chửi và thách thức nên T đuổi theo dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào má bên trái anh C3, anh C3 lùi lại thì bị T tiếp tục dùng tay phải đấm 01 phát trúng vùng má bên trái làm anh C3 loạng choạng lùi xuống lòng đường. Nguyễn Văn L lấy một ấm chuyên bằng sứ hình bầu dục kích thước khoảng 10x7 cm đang để ở bàn uống nước của quán cầm trên tay phải đi đến đập trúng vào vùng đuôi cung lông mày trái của anh C3 làm rách da chảy máu. Anh C3 định đuổi theo thì Lâm lùi lại và ném mảnh vỡ của chiếc ấm chuyên về phía anh C3 nhưng không gây thương tích gì. T thấy thế dùng tay trái kéo vai phải của anh C3 giật lại rồi dùng tay phải đấm thẳng một cái trúng vào vùng má phải của anh C3 làm anh C3 bị choáng ngã đập mặt xuống đường. Lúc này, bạn anh C3 vào can ngăn kéo, đè L xuống đường. L vùng dậy thì bị anh Bùi Văn T1, sinh năm 1989, trú tại thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định dùng chân đạp vào người. Anh C3 được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N để cấp cứu sau đó anh C3 được chuyển lên bệnh viện R - Hà Nội để điều trị.
Hậu quả: Anh C3 bị thương: Rách da chảy máu cung lông mày trái kích thước 04 cm, rách da chảy máu vùng cằm kích thước 04 cm, vết thương môi dưới kích thước 1,5cm, vết thương niêm mạc môi dưới kích thước 03 cm; vỡ răng số 36, gãy xương hàm dưới.
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an xã N (nay là phường N) đã xuống nơi xảy ra vụ việc xác định hiện trường, thu giữ vật chứng là những mảnh vỡ của ấm pha trà bằng sứ là công cụ mà L sử dụng đánh anh C3. Tiến hành lấy lời khai của Triệu Thị N, Cà Thị M, Bùi văn T1, Đinh Hoàng L1, Phạm Danh Đ, Trần Văn Đ1, Phạm Văn T2, Nguyễn Văn S đều xác định nội dung sự việc như đã nêu trên.
Sau khi xảy ra sự việc, ngày 13-5-2024 chị Phạm Thị P, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (là vợ anh C3) đã đến Công an thành phố N trình báo nội dung vụ việc và có đơn đề nghị xử lý đối tượng gây thương tích cho anh C3 theo quy định của pháp luật.
Sau khi nhận được đơn trình báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành lấy lời khai của bị hại là anh Bùi Sỹ C3, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Triệu Thị N, Cà Thị M, Bùi văn T1, Đinh Hoàng L1, Phạm Danh Đ, Trần Văn Đ1, Phạm Văn T2, Nguyễn Văn S để làm rõ nội dung sự việc. Tiến hành nhận dạng các đối tượng đã gây thương tích cho anh Bùi Sỹ C3, tất cả đều khẳng định Hoàng Việt T và Nguyễn Văn L là đối tượng đã gây thương tích cho anh C3.
Ngày 12-6-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của anh Bùi Sỹ C3. Tại Kết luận giám định thương tích số 81/24/TgT ngày 14/6/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y Sở Y tế, tỉnh Nam Định kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Bùi Sỹ C3 hiện tại là 33%. Cơ chế hình thành vết thương: Vật cứng tác động gây thương tích.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã triệu tập Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L lên trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Việt T và Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi gây thương tích cho anh Bùi Sỹ C3 như đã nêu trên.
Về vấn đề dân sự: Bị hại là anh Bùi Sỹ C3 yêu cầu Hoàng Việt T và Nguyễn Văn L bồi thường mỗi bị cáo 30.000.000 đồng.
Ngày 25-7-2024 bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972; trú tại: Số F T, xã L, thành phố N (là mẹ của Hoàng Việt T); chị Đỗ Thị N1, sinh năm 1996; Trú tại: Thôn T, xã Đ (nay là xã N), huyện N, tỉnh Nam Định (là chị của Nguyễn Văn L) đã bồi thường cho anh C3 30.000.000 đồng. Anh C3 đã nhận đủ số tiền 30.000.000 đồng và vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu 02 bị cáo tiếp tục bồi thường 30.000.000 đồng.
Ngày 04-11-2024, bà Nguyễn Thị B và chị Đỗ Thị N1 có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo Hoàng Việt T và Nguyễn Văn L phải trả lại số tiền mà bà B và chị N1 đã bỏ ra bồi thường cho người bị hại.
Bản cáo trạng số: 250/CT-VKS-TPNĐ ngày 24-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (với tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L tại phiên tòa thể hiện hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị xử phạt các bị cáo cụ thể như sau:
- - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Việt T từ 05 năm 06 tháng đến 6 năm tù.
- - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
- - Về phần dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L. Mỗi bị cáo phải bồi thường anh Bùi Sỹ C3 15.000.000 đồng.
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L và bị hại anh Bùi Sỹ C3 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Đơn trình báo và lời khai của bị hại; lời khai của người làm chứng; biên bản Thực nghiệm điều tra; Sơ đồ thực nghiệm điều tra; Bản ảnh thực nghiệm điều tra; Kết luận giám định thương tích số 81/24/TgT ngày 14/6/2024 của Trung tâm G, tỉnh Nam Định cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 05-5-2024, tại quán K, địa chỉ số A đường V, xã N (nay là phường N), thành phố N do có mâu thuẫn phát sinh trong quá trình hát Karaoke nên Hoàng Việt T và Nguyễn Văn L đã dùng tay, dùng ấm pha trà bằng sứ đánh anh Bùi Sỹ C3 gây thương tích cho anh C3 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 33%. Như vậy, hành vi của bị cáo bị cáo Hoàng Việt T và Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tăng nặng “Dùng hung khí nguy hiểm” được liệt kê tại điểm a khoản 1 của Điều luật là có cơ sở và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của công dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt tương xứng đối với từng hành vi phạm tội của các.
[3] Về vai trò của các bị cáo: Các bị cáo đều là người quen biết, cùng nhau phạm tội trong một lần duy nhất, trước khi phạm tội không có sự phân công nên là đồng phạm giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Bị cáo Hoàng Việt T là người khởi xướng rủ rê bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích” nên xếp vai trò đầu và áp dụng mức hình phạt cao hơn đối với bị cáo Nguyễn Văn L.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại; gia đình hai bị cáo đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt được chính quyền địa phương xác nhận; Bị hại cũng có một phần lỗi. Do vậy, các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về cá thể hóa hình phạt đối với các bị cáo:
Đối với bị cáo Hoàng Việt T, bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu; bị cáo đã 01 lần bị Công an thành phố N xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau; 01 lần bị đưa ra xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bản chất coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chỉ xử phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn L, bị cáo phạm tội lần đầu, lần phạm tội này bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chỉ xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tại cơ quan điều tra, người bị hại là anh Bùi Sỹ C3 yêu cầu các bị cáo Hoàng Việt T và Nguyễn Văn L bồi thường mỗi bị cáo 30.000.000 đồng. Gia đình bị cáo L và gia đình bị cáo T đã bồi thường cho anh C3 mỗi bị cáo 15.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Việt T và Nguyễn Văn L chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường của anh Bùi Sỹ C3 đối với số tiền còn lại. Cụ thể là mỗi bị cáo 15.000.000 đồng. Xét thấy, sự tự nguyện của các bị cáo không trái quy định của pháp luật. Nên Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ là các mảnh vỡ của chiếc chuyên sứ được niêm phong mã số NS1.2123000, xét không còn giá trị sử dụng nên tiêu hủy.
[8] Về án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định pháp luật cụ thể như sau:
- - Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- - Án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải nộp mỗi bị cáo 750.000 đồng (bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Việt T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09-7-2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09-7-2024.
2. Trách nhiệm dân sự:
- - Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Bị cáo Hoàng Việt T phải bồi thường tiếp cho anh Bùi Sỹ C3 số tiền 15.000.000 đồng (mươi năm triệu đồng).
Bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường tiếp cho anh Bùi Sỹ C3 số tiền 15.000.000 đồng (mươi năm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Xử lý vật chứng:
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong mã số NS1.2123000.
(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-11-2024).
5. Án phí sơ thẩm:
- - Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Hoàng Việt T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng ( bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng ( bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo Hoàng Việt T, Nguyễn Văn L được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại anh Bùi Sỹ C3 (vắng mặt) được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, đóng dấu) Phạm Thị Thu Định |
Bản án số 254/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 254/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội "Cố ý gây thương tích"
