|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 254/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17-11-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hoàng Tâm
Ông Ngô Văn Bê
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2023/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Bích T, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Thường trú: Thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số A, Ngưu T, thôn P, xã D, huyện G, Đ, Đài Loan.
Đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng: Anh Hoàng Thanh T1, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang (Văn bản ủy quyền ngày 17/8/2023, không triệu tập).
2. Bị đơn: Anh Phan Văn T2, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Hoàng Thị Bích T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Văn T2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 13/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm
2017 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách và quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Do mâu thuẫn vợ chồng và kinh tế gia đình khó khăn không có tiền để trang trải cho cuộc sống nên chị quyết định đi lao động tại Đài Loan từ năm 2018. Khi chị đi nước ngoài vợ chồng có liên lạc với nhau trong thời gian đầu đến năm 2019 thì chấm dứt mọi liên lạc với nhau. Chị và anh T2 sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Phan Văn T2.
Về con chung: Chị và anh T2 có 01 con chung là cháu Phan Tuấn T3, sinh ngày 14/9/2015, hiện cháu T3 đang sống cùng với anh T2 tại thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị có nguyện vọng để anh T2 nuôi cháu T3, chị cấp dưỡng 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/01 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị T trình bầy: Chị về nước khởi kiện xin ly hôn nhưng vì lý do chị tiếp tục đi lao động nước ngoài nên không thể đến Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang để tham gia tố tụng trong vụ án, nên chị đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt chị trong tất cả các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cần công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, chị ủy quyền cho anh Hoàng Thanh T1, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang nộp đơn khởi kiện, án phí và nhận các văn bản tố của Tòa án.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/10/2023 anh Phan Văn T2 trình bày:
Anh và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2014 tại UBND xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống với nhau đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng xảy ra cãi vã nên anh có hỏi ý kiến của chị T thì chị T nói vợ chồng ly hôn đi. Anh và chị T không còn liệc lạc với nhau từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay. Tháng 08 năm 2023 chị T về nước nghỉ phép chị T có nói chuyện về việc ly hôn với anh và trở về sống tại nhà mẹ đẻ tại S. Nay chị T làm đơn ly hôn anh đồng ý ly hôn chị T.
Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung là cháu Phan Tuấn T3, sinh ngày 14/9/2015. Hiện cháu T3 đang sống cùng với anh và gia đình anh tại thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nay vợ chồng ly hôn anh có nguyện vọng nuôi cháu T3 và đồng ý để chị T cấp dưỡng 2.000.000đ/01 tháng và cấp dưỡng từ khi xét xử sơ thẩm.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng anh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Phan Tuấn T3 trình bày: Hiện nay cháu đang sinh sống cùng bố, và ông bà nội tại thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn ở cùng với bố là Phan Văn T2.
Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị Bích T và anh Phan Văn T2 vắng mặt, chị T, anh T2 đều đề nghị xét xử vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Hoàng Thị Bích T, biên bản lấy lời khai của anh Phan Văn T2, cháu Phan Tuấn T3 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Bích T.
Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Bích T được ly hôn anh Phan Văn T2.
Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Tuấn T3, sinh ngày 14/9/2015 cho anh Phan Văn T2 chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/01 tháng tính từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí về cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hoàng Thị Bích T khởi kiện xin ly hôn anh Phan Văn T2 và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Do chị T lao động nước ngoài theo Công văn trả lời số:26856/QLXNC-P3 ngày 12/10/2023 của Cục Q-Bộ C cung cấp, chị T xuất nhập cảnh 07 lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 30/8/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo
khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án có đương sự là nguyên đơn chị T hiện đang lao động tại nước ngoài, bị đơn anh T2 có địa chỉ thường trú tại: thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Bích T, bị đơn anh Phan Văn T2 đều đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh T2.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Bích T và anh Phan Văn T2 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 13/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Phan Văn T2.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị Bích T đối với anh Phan Văn T2, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T và anh T2 chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, năm 2018 chị T đi lao động tại Đài Loan đến tháng 8 năm 2023 chị T về nước nghỉ phép nhưng không về chung sống cùng với anh T2, anh T2 cũng xác nhận vợ chồng không liên lạc từ tháng 02 năm 2023, chị T về nước nhưng cũng không chung sống cùng anh. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T ly hôn với anh T2, anh T2 đồng ý ly hôn với chị T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị T, anh T2 không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T2, xử cho chị T được ly hôn anh T2 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là có căn cứ.
[4]. Về nuôi con chung: Chị T, anh T2 có 01 con chung là cháu Phan Tuấn T3, sinh ngày 14/9/2015. Sau khi ly hôn chị T và anh T2 đều thống nhất đề nghị Tòa án giao cháu T3 cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị T: Hội đồng xét xử thấy chị T đang lao động tại nước ngoài nên không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Cháu T3 hiện đang sinh sống cùng anh T2, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Ngoài ra, cháu T3 trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Phan Tuấn T3 cho anh T2 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn đến khi con chung trong 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích của con chung cũng như nguyện vọng của cháu T3.
Sau khi ly hôn chị Hoàng Thị Bích T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp chị Hoàng Thị Bích T về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[5]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T và anh T2 đều thống nhất chị T cấp dưỡng nuôi cháu T3 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/01 tháng. Xét thấy, nguyện vọng của chị T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 107, Điều 110, Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị T4 về việc cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/01 tháng.
[6]. Về phương thức và thời gian cấp dưỡng: Chị T đề nghị cấp dưỡng theo tháng, đề nghị của chị T phù hợp quy định tại Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận phương thức cấp dưỡng theo tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
[7]. Về tài sản, công nợ chung: Chị T và anh T2 đều xác định vợ chồng không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Chị Hoàng Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Số tiền chị T còn phải nộp là 300.000 đồng.
[9]. Về quyền kháng cáo:
[9.1] Chị Hoàng Thị Bích T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
[9.2] Anh Phan Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c
khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Bích T.
1. Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Bích T được ly hôn anh Phan Văn T2.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Tuấn T3, sinh ngày 14/9/2015 cho anh Phan Văn T2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, chị Hoàng Thị Bích T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị Bích T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T2 với số tiền là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/ 01 tháng. Phương thức cấp dưỡng theo tháng và thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 11 năm 2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị Bích T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000015 ngày 09/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
Về án phí cấp dưỡng: Chị Hoàng Thị Bích T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
5.Về quyền kháng cáo bản án: Chị Hoàng Thị Bích T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Phan Văn T2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Hồng Tâm Ngô Văn Bê |
Hoàng Thị Thu Hiền |
Nơi nhận:
- -VKSND tỉnh Bắc Giang;
- -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
- -UBND xã Chu Điện, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
- -Cổng thông tin điện tử;
- -Các đương sự;
- -Lưu hồ sơ vụ án;
- -Lưu Tổ HCTP.
Bản án số 254/2023/HNGĐ-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 254/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị T và anh T2
