|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 254/2024/HS-ST Ngày: 16-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Dương;
- Ông Huỳnh Vĩnh Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 208/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 288/HSST-QĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Mạnh P, sinh năm: 1991 tại tỉnh Ninh Bình; nơi thường trú: Số E N, Khu phố D, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số A Tỉnh lộ 15, ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N, sinh năm: 1964 và bà Đỗ Thị N1, sinh năm: 1967; anh, chị, em ruột: 02 người, kể cả bị cáo; vợ: Lê Thụy Tâm N2 (đã ly hôn); con: 01 người sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 10/5/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 80/2013/HSST. Chấp hành xong ngày 22/11/2013.
Ngày 12/11/2014, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 280/2014/HSST. Chấp hành xong ngày 08/8/2015.
Ngày 27/8/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 143/2019/HSST. Chấp hành xong ngày 08/1/2021.
Bị cáo bị bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 28/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Bùi Văn H, sinh năm: 1994; địa chỉ: Số G đường N, Tổ A, ấp N, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn N, sinh năm: 1964; địa chỉ: Số A Tỉnh lộ 15, ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người làm chứng:
- Bà Đỗ Thị N1, sinh năm: 1967; địa chỉ: Số A Tỉnh lộ 15, ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Bà Võ Thị P1, sinh năm: 1982; địa chỉ: Số G, Nguyễn Thị R, ấp N, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Bà Võ Nguyễn Mỹ D, sinh năm: 1992; địa chỉ: Số G, Nguyễn Thị R, ấp N, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1970; địa chỉ: Số I Tỉnh lộ 15, ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/3/2024, Phạm Mạnh P điều khiển xe mô tô biển số 72B1-1045 từ nơi làm việc tại xã T về nơi ở tại xã A. Khi đi ngang qua dãy nhà trọ tại địa chỉ: Số G đường N, Tổ A, ấp N, xã N, huyện C, P thấy cổng ngoài mở nên nảy sinh ý định vào khu nhà trọ tìm tài sản để trộm cắp. P để xe tại cổng, đi bộ vào trong thì thấy phòng thứ 3 (từ ngoài tính vào) có cửa phòng khép hờ. P thấy xung quanh không có ai nên đẩy cửa phòng, đứng quan sát thì thấy trong phòng có anh Bùi Văn H đang nằm ngủ trên một tấm pallet gỗ trải chiếu. Bên cạnh anh H có một bóp da màu nâu có số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) và một điện thoại di động loại Iphone 7 plus màu đen. P đã lấy hết số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) và một điện thoại di động loại Iphone 7 plus màu đen bỏ vào túi rồi tẩu thoát. Khi đi đến đoạn Tỉnh lộ 7 thuộc ấp X, xã A thì P bán điện thoại Iphone 7 plus màu đen cho một người không rõ lai lịch đi bộ trên đường được số tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng). P đưa cho mẹ ruột là bà Đỗ Thị N1 số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) gồm 04 tờ tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để bà N1 đóng học phí cho con của P nhưng không nói cho bà N1 biết đây là tiền do P phạm tội mà có. Bà N1 đã giao nộp số tiền này. P sử dùng 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để thay ốp sườn xe từ màu đỏ sang màu xanh. Số tiền còn lại P tiêu xài cá nhân.
Ngày 27/3/2024, Công an xã N, huyện C phát hiện Phạm Mạnh P có đặc điểm nhận dạng giống đối tượng trộm cắp ngày 23/03/2024 nên mời làm việc thì P khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp như nêu trên. Khi kiểm tra trong người P còn 125.000đ (một trăm hai mươi lăm nghìn đồng), trong đó có tờ tiền mệnh giá 100.000₫ (một trăm nghìn đồng) số seri GC19018310 là tiền Phương trộm của ông H và xe máy biển số 72P1-1045, mũ bảo hiểm của P. Công an xã N cũng đã thu giữ quần áo, dép khi P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- Kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận (bút lục 110):
01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 32GB có giá 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
- Vật chứng thu giữ:
- + 04 (bốn) tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), số seri: ME16976017, ZT19688961, ZN17045115, NE21727332); 01 (một) tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), số seri: GC19018310; 01 (một) tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 5.000đ (năm nghìn đồng).
- + 01 (một) xe mô tô biển số 72P1-1045, số khung RRKWCHOUM7XJ01993, số máy VTT07JL1P52FMH001993.
- + 01 (một) áo thun màu xanh phía trước có một sọc xanh một sọc trắng, trên sọc trắng có dòng chữ Polo company; 01 (một) quần tây nam màu đen; 01 (một) mũ (nón) bảo hiểm màu trắng viền màu cam, hai sọc màu trắng trên đỉnh mũ, vành mũ phía trước có màu cam; 01 (một) đôi dép bằng nhựa màu trắng, đế dép có chữ Hiệp T.
- + 01 (một) ốp sườn xe màu đỏ của xe mô tô biển sổ 72P1-1045 do P thay đổi màu ốp xe.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh rõ nguồn gốc các vật chứng nhưng chưa xử lý. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng thuộc Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C.
- Về dân sự:
Bị cáo Phạm Mạnh P đã nhờ cha ruột là ông Phạm Văn N bồi thường cho bị hại Bùi Văn H số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng). Ông H không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự.
Qúa trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải
Tại Bản Cáo trạng số 200/CT-VKS.CC ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Phạm Mạnh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo P thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo và đồng ý với Kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 23/3/2024, tại dãy nhà trọ địa chỉ G N, ấp N, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Phạm Mạnh P có hành vi lén lút đột nhập vào Phòng trọ số 3 lấy trộm số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen trị giá 2.700.000₫ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) (theo Bản kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện C) rồi tẩu thoát, tổng trị giá tài sản mà P chiếm đoạt là 5.200.000đ (năm triệu hai trăm nghìn đồng). Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Mạnh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Manh P2 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự . Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình làm lại cuộc đời, nuôi dưỡng cha mẹ già và chăm sóc con của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Mạnh P đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ. Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 23/3/2024, tại dãy nhà trọ địa chỉ G N, ấp N, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Phạm Mạnh P có hành vi lén lút đột nhập vào Phòng trọ số 3 lấy trộm số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen trị giá 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) (theo Bản kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện C) rồi tẩu thoát, tổng trị giá tài sản mà P chiếm đoạt là 5.200.000đ (năm triệu hai trăm nghìn đồng). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Mạnh P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì mục đích tiêu xài cá nhân mà bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm minh để răn đe, cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
[3] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân rất xấu, 03 (ba) lần bị Tòa án nhân dân xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản vào các năm 2013, 2014 và 2019. Bị cáo đã chấp hành xong và xóa án tích. Lần phạm tội này chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật, bất chấp sự trừng trị của pháp luật vẫn ngang nhiên thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo cũng đã nhờ cha ruột là ông Phạm Văn N bồi thường khắc phục thiệt hại cho bị hại số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng). Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Mạnh P đã tác động cha ruột là ông Phạm Văn N bồi thường cho bị hại Bùi Văn H số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) và bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét.
[7]. Về xử lý vật chứng vụ án:
- - Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 72P1-1045, số khung RRKWCHOUM7XJ01993, số máy VTT07JL1P52FMH001993. Đây là phương tiện P sử dụng đi trộm cắp, theo thông tin đăng ký của bà Hồ Thị Thu T1, sinh năm: 1993, số căn cước công dân: [...], nơi thường trú: khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Qua xác minh, bà T1 xác định không sở hữu xe này, không yêu cầu, tranh chấp gì. P khai nhận xe mô tô do P mua lại từ người không rõ lai lịch, không có hợp đồng mua bán. Kết quả trưng cầu giám định xe mô tô biển số 72P1-1045 có số khung, số máy không đổi. Cơ quan điều tra đã ban hành thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô trên nhưng chưa có kết quả. Tiếp tục thông báo truy tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe để giao trả cho chủ sở hữu; nếu hết thời hạn thông báo truy tìm mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
- - Đối với 01 (một) áo thun màu xanh phía trước có một sọc xanh một sọc trắng, trên sọc trắng có dòng chữ Polo company; 01 (một) quần tây nam màu đen; 01 (một) mũ (nón) bảo hiểm màu trắng viền màu cam, hai sọc màu trắng trên đỉnh mũ, vành mũ phía trước có màu cam; 01 (một) đôi dép bằng nhựa màu trắng, đế dép có chữ Hiệp T. Đây là đồ vật cá nhân của P mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo không yêu cầu nhận lại và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) ốp sườn xe màu đỏ của xe mô tô biển số 72P1-1045 do P thay đổi màu ốp xe. Bị cáo không yêu cầu nhận lại và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
[8]. Những vấn đề khác của vụ án:
- - Đối với 04 (bốn) tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), số seri: ME16976017, ZT19688961, ZN17045115, NE21727332); 01 (một) tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), số seri: GC19018310; 01 (một) tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 5.000đ (năm nghìn đồng). Đây là tài sản do P trộm của ông Bùi Văn H. Ngày 19/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2218/QĐ-ĐTTH bằng hình thức trả lại cho bị hại H là phù hợp. Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với bà Đỗ Thị N1 có nhận số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) của bị cáo P giao để đóng tiền học phí cho con của bị cáo nhưng bà N1 không biết đây là tài sản do P trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện C không xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp. Viện kiểm sát không ý kiến, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xét.
- - Đối với người đàn ông đã mua điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen của bị hại H mà bị cáo P trộm cắp tài sản đem bán, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. Viện kiểm sát không ý kiến, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xét.
[9]. Về nghĩa vụ chịu án phí:
Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần bị cáo P phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Điều luật, tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Mạnh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
[2] Xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) áo thun màu xanh phía trước có một sọc xanh một sọc trắng, trên sọc trắng có dòng chữ Polo company; 01 (một) quần tây nam màu đen; 01 (một) mũ (nón) bảo hiểm màu trắng viền màu cam, hai sọc màu trắng trên đỉnh mũ, vành mũ phía trước có màu cam; 01 (một) đôi dép bằng nhựa màu trắng, đế dép có chữ Hiệp T;
- + 01 (một) ốp sườn xe màu đỏ;
- Tiếp tục thông báo truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) xe mô tô biển số 72P1-1045, số khung RRKWCHOUM7XJ01993, số máy VTT07JL1P52FMH001993 để giao trả cho chủ sở hữu hợp pháp; nếu hết thời hạn thông báo truy tìm mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
(Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Lệnh nhập kho vật chứng số 868/LNK-ĐTTH ngày 19/6/2024 (bút lục số 143) và Phiếu nhập kho vật chứng số 868/PNK ngày 19/6/2024 (bút lục số 144)).
[3] Án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Phạm Mạnh P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |
Bản án số 254/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 254/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Phạm Mạnh P phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
