Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 254/2024/DS-PT

Ngày 14-5-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng

đất, yêu cầu công nhận quyền sử

dụng đất, yêu cầu bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng;

Bà Đinh Thị Mộng Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07 và 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 41/2024/TLPT-DS ngày 31/01/2024 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 180/2024/QĐPT-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Văn S, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Ông Đinh Thanh V, sinh năm 1969; bà Thiều Thị L, sinh năm 1972; cùng địa chỉ: ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Ngọc L1, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  2. Bà Đinh Thị Hạnh N, sinh ngày 05/01/2009; địa chỉ: ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bà N: Ông Đinh Thanh V, sinh năm 1969; bà Thiều Thị L, sinh năm 1972; cùng địa chỉ: ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Đinh Thanh V và bà Thiều Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên toà, nguyên đơn ông Phan Văn S trình bày:

Vào khoảng tháng 4/2018, ông Phan Văn S nhận chuyển nhượng phần đất có diện tích 1.227,5m², thuộc thửa đất 369, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Phần đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CB 141517, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS01964, đối với phần đất có diện tích 1.227,5m², thuộc thửa đất 369, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Thửa đất được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/8/2017, đăng ký biến động sang tên cho ông S vào ngày 30/5/2018. Phần đất này là do một mình ông S đứng tên. Khi ông S nhận chuyển nhượng phần đất này thì ông S đã có vợ, đây là tài sản chung của vợ chồng ông S. Phần đất của ông S có cột mốc, ranh giới với các phần đất xung quanh. Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay thì đất ông S vẫn để trống, không canh tác gì trên đất. Từ năm 2020, ông S phát sinh tranh chấp với bà L và ông V. Quá trình đo đạc, tại mảnh trích lục địa chính ngày 06/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P thể hiện phần đất ông S bị lấn chiếm có diện tích là 54,8m². Nay ông Phan Văn S yêu cầu Tòa án buộc ông Đinh Thanh V, bà Thiều Thị L có trách nhiệm trả lại cho ông S phần đất lấn chiếm có diện tích là 54,8m² thuộc thửa đất 369, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.

Bị đơn có yêu cầu phản tố gồm:

Thứ nhất: Yêu cầu Tòa án công nhận cho bà Thiều Thị L và ông Đinh Thanh V phần đất có diện tích 54,8m², thuộc thửa đất số 369, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Đây là phần đất đang tranh chấp giữa bà L, ông V và ông S.

Thứ hai: Yêu cầu Tòa án buộc ông Phan Văn S phải bồi thường cho bà L, ông V chi phí đi lại khi tham gia tố tụng là 5.000.000 đồng. Trong đó bao gồm 4.000.000 đồng là tiền công lao động bị mất của bà L và ông V, còn 1.000.000 đồng là chi phí sao lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đinh Thanh V.

Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, ông S có ý kiến như sau: Đối với yêu cầu công nhận đất thì ông S đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, theo kết quả đo đạc, đất của ai thì trả về cho người đó, nếu đất tranh chấp là của ông S thì buộc bị đơn trả lại cho ông S, còn nếu đất là của bị đơn thì ông S đồng ý khi Tòa án công nhận đất cho bị đơn. Còn về yêu cầu bồi thường chi phí đi lại nếu ông S không được chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn trả lại đất cho ông S thì ông S đồng ý thanh toán chi phí đi lại cho bị đơn là 5.000.000 đồng.

Đối với kết quả đo đạc, định giá ông S thống nhất, ông S không có ý kiến gì. Ông S không yêu cầu đo đạc, định giá lại.

- Bị đơn bà Thiều Thị L, cũng đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đinh Thanh V trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L không đồng ý, ông Đinh Thanh V là chủ sở hữu quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CB 110804, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS01878, đối với phần đất có diện tích 240,4m², thuộc thửa đất 361, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Thửa đất được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/01/2017. Nguồn gốc thửa đất: Ông V được mẹ ông V là bà Phạm Thị Mỹ t cho năm 2016, được công nhận quyền sử dụng đất, không thu tiền sử dụng đất. Gia đình ông bà đã sinh sống, xây dựng nhà cửa ổn định trước khi ông S nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông bà không lấn chiếm đất của ông S nên không đồng ý trả lại. Hiện nay, trên phần đất tranh chấp chỉ có hai vợ chồng ông bà và con gái tên Đinh Thị Hạnh N, sinh ngày 05/01/2009 sinh sống, ngoài ra không còn ai khác sinh sống trên đất.

Bà L và ông V có đơn yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết 02 vấn đề sau:

Thứ nhất: Yêu cầu Tòa án công nhận cho bà L và ông Vũ p đất có diện tích 54,8m², thuộc thửa đất số 369, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Đây là phần đất đang tranh chấp với nguyên đơn).

Thứ hai: Yêu cầu Tòa án buộc ông Phan Văn S phải bồi thường cho bà L và ông V chi phí đi lại khi tham gia tố tụng và chi phí sao lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 5.000.000 đồng. Bà L và ông V có yêu cầu này là vì: Khi ông S khởi kiện thì ông bà phải bỏ công việc làm để lên Tòa án giải quyết, đó là thu nhập thực tế của ông bà bị mất, thiệt hại 5.000.000 đồng bao gồm 4 ngày hai vợ chồng ông bà tham gia hòa giải, làm việc tại Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo trước khi có đơn yêu cầu phản tố (ngày cụ thể thì ông bà không nhớ) là 4 ngày x 1.000.000 đồng = 4.000.000 đồng (mỗi ngày thu nhập của bà L là 500.000 đồng, ông V là 500.000 đồng), còn 1.000.000 đồng còn lại là chi phí trích lục hồ sơ về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đinh Thanh V, biên lai thu tiền cấp trích lục hồ sơ đã nộp cho Tòa án.

Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải tháo dỡ nhà thì ông bà không có ý kiến gì. Vì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông bà không đồng ý trả đất, không đồng ý tháo dỡ nhà.

Đối với kết quả định giá ngày 25/3/2021, bà L thống nhất, không có ý kiến gì, còn về kết quả đo đạc ngày 25/3/2021 lúc đó chỉ có một mình ông V tham gia, bà L không tham gia, bà L không đồng ý và bà L đã yêu cầu Tòa án tiến hành đo đạc lại vào ngày 22/12/2022. Đối với kết quả đo đạc ngày 22/12/2022 bà thống nhất, bà không có ý kiến gì, không yêu cầu Tòa án tiến hành đo đạc lại.

- Bị đơn ông Đinh Thanh V trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bị đơn bà Thiều Thị L, không bổ sung gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc L1 trình bày: Bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không bổ sung gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Hạnh N trình bày: Đối với tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn bà đề nghị giải quyết theo pháp luật, bà không có ý kiến gì.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn S đối với bị đơn ông Đinh Thanh V, bà Thiều Thị L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Buộc bị đơn ông Đinh Thanh V, bà Thiều Thị L phải trả cho nguyên đơn ông Phan Văn S phần đất có diện tích 54.8m² thuộc thửa số 369, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương (trong đó có diện tích đất ở nông thôn là 22,1m², diện tích nhà là 14.9m²). Phần đất có tứ cận:

  • Phía Đông giáp thửa 415,
  • Phía Tây giáp thửa 360, 361,
  • Phía Nam giáp thửa 237,
  • Phía Bắc giáp đường bê tông.

(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu Tòa án công nhận phần đất đang tranh chấp với nguyên đơn cho bị đơn và yêu cầu bồi thường chi phí đi lại tham gia tố tụng là tiền công lao động bị mất và chi phí sao lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng về quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi tuyên bản án sơ thẩm đến ngày 07/10/2023, bị đơn ông Đinh Thanh V và bà Thiều Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Căn cứ Mảnh trích lục ngày 23/3/2023 thể hiện phần đất tranh chấp 54,8m² thuộc thửa đất số 369 của nguyên đơn nên bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ. Tuy nhiên, trên phần đất tranh chấp có tài sản của bị đơn theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/3/2021 và ngày 22/12/2022, tài sản trên phần đất tranh chấp có tổng giá trị là: 42.916.000 đồng nhưng cấp sơ thẩm không xử lý những tài sản trên đất để bảo đảm quyền lợi cho đương sự. Xét thấy, trong quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn tự nguyện thanh toán giá trị tài sản trên đất 43.000.000 đồng cho bị đơn. Việc tự nguyện của nguyên đơn có lợi cho bị đơn cần được ghi nhận. Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/3/2021, nhà chính không nằm trên phần đất tranh chấp thì việc tháo dỡ tài sản là nhà phụ trên đất tranh chấp không ảnh hưởng đến nhà chính nên không gây thiệt hại đến tài sản còn lại của bị đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc thanh toán toàn bộ giá trị tài sản trên đất 43.000.000 đồng cho bị đơn, nguyên đơn có quyền tháo dỡ tài sản trên đất tranh chấp.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày, tranh tụng của các đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: kháng cáo của bị đơn ông Đinh Thanh V và bà Thiều Thị L là trong hạn luật định, do đó Tòa án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông V, bà L trả lại cho nguyên đơn phần đất lấn chiếm diện tích: 54,8m² thuộc thửa 369, tờ bản đồ số 20, tại ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Phần đất tranh chấp đã được Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/5/2018 thuộc một phần diện tích 1.227,5m².

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì bị đơn đã sử dụng ổn định từ khi nhận tặng cho đến nay. Bị đơn phản tố yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp diện tích 54,8m² cho bị đơn và yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường 5.000.000 đồng tiền chi phí đi lại khi tham gia tố tụng, chi phí sao lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Xét thấy: căn cứ vào tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện:

Về nguồn gốc đất nguyên đơn ông S do nhận chuyển nhượng từ ông Lê Minh T ngày 23/4/2018 diện tích 1.227,5m² thuộc thửa 369, tờ bản đồ 20, tại ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số GCN CS01964 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 03/8/2017, đăng ký biến động sang tên ông Phan Văn S ngày 30/5/2018.

Nguồn gốc đất của bị đơn ông Đinh Thanh V do bà Phạm Thị M (mẹ ruột) tặng cho vào năm 2016 với diện tích: 240,4m² thuộc thửa 361 (tách từ thửa 38), tờ bản đồ số 20, tại xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS01878 ngày 25/01/2017.

Tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý ngày 06/5/2021 và ngày 23/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P thực hiện do nguyên đơn và bị đơn yêu cầu đo đạc.

Đối với phần đất của nguyên đơn thửa 369 đo đạc thực tế có diện tích 1.109,4m², còn phần đất của bị đơn thửa đất 361 đo đạc thực tế có diện tích 179,8m², phần đất diện tích hai bên tranh chấp là 54,8m².

Tài sản của bị đơn trên phần đất tranh chấp gồm: nhà tạm diện tích 7,9m²; nhà tắm, nhà vệ sinh xây dựng năm 2017 diện tích 4m²; một giá đỡ bồn nước kết cấu xây gạch, tô xi măng diện tích 1m², cao 3m (bên trong là nhà vệ sinh); một mái che cột gạch, xây tô xi măng, quét sơn, mái tole 7m²; một buồng nước inox 1000 lít; 2 cây sưa trồng năm 2011; 01 bụi tầm vông (17 cây) trồng năm 2000. Giá trị đất: đất ở có diện tích 22,1m² có giá trị 11.204.700 đồng; đất CLN có diện tích 32,7m² có giá trị 42.916.000 đồng.

Tổng cộng giá trị tài sản theo Biên bản định giá ngày 25/3/2021 của Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị tài sản là 58.241.000 đồng (trong đó: tài sản là 42.916.000 đồng).

Xét Công văn số 162/UBND-TNMT ngày 18/02/2022 của Ủy ban nhân dân huyện P và Công văn số 2500/CNVPĐKĐĐ ngày 11/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P về việc cung cấp thông tin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thông tin đất tranh chấp như sau:

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 141517, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01964 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 03/8/2017 cho ông Lê Minh T, đăng ký biến động chuyển mục đích từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở nông thôn 100m² và đăng ký biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Phan Văn S vào ngày 30/5/2018 được thực hiện theo Điều 20, Quyết định số 13/2015/QĐ - UBND ngày 14/4/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc ban hành quy định về một số vấn đề liên quan đến thủ tục đăng ký đất đai, tài sản khác gắn liền với đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gần liền với đất trên địa bản tỉnh Bình Dương.

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB110804, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01878 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 25/01/2017 cho ông Đinh Thanh V, đăng ký biến động chuyển mục đích từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn 100m², được thực hiện theo Điều 20, Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 14/4/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc ban hành quy định về một số vấn đề liên quan đến thủ tục đăng ký đất đai, tài sản khác gắn liền với đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông V, bà L không khiếu nại gì.

Thửa đất số 369, tờ bản đồ 20, tọa lạc tại xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở nông thôn (ONT), thực hiện theo Điều 6, Thông tư 30/BTTM, ngày 02/6/2014 về việc quy định hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, trước khi thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất có tiến hành đo đạc theo Mảnh trích lục có đo đạc chỉnh lý số 3798/2017, được định vị, vị trí phần xin chuyển mục đích từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở 100m² (ONT).

Đối với phần đất tranh chấp thể hiện theo Mảnh trích lục có đo đạc chỉnh lý ngày 06/5/2021 và ngày 23/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P thực hiện đo đạc thực tế có diện tích là 54,8m² thuộc thửa số 369, tờ bản đồ số 20, có diện tích đất ở nông thôn là 22,1m² (ONT), cây lâu năm là 32,7m².

Đối với phần đất tranh chấp thể hiện theo Mảnh trích lục có đo đạc chỉnh lý ngày 06/5/2021 và ngày 23/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P có diện tích nhà 18,9m² thuộc thửa 369, tờ bản đồ số 20.

Như vậy có thể thấy rằng phần đất tranh chấp do các đương sự xác định và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P thực hiện đo đạc xác định diện tích tranh chấp là 54,8m², trong đó diện tích đất ở là 22,1m² (bị đơn đã xây dựng nhà diện tích 18,9m²), cây lâu năm là 32,7m² thuộc một phần thửa đất số 369, tờ bản đồ số 20 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại phần đất diện tích 54,8m² như đã phân tích ở trên là có căn cứ chấp nhận.

Xét: đối với yêu cầu phản tố của bị đơn công nhận phần đất diện tích 54,8m² thuộc thửa đất số 369, tờ bản đồ số 20 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, bị đơn cho rằng năm 2016 được mẹ bà Phạm Thị Mỹ t cho và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình bị đơn sinh sống, xây dựng nhà sử dụng ổn định trước khi nguyên đơn ông S nhận chuyển nhượng của ông Lê Minh T nhưng bị đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, nguyên đơn không thừa nhận việc bị đơn trình bày là phần đất của bị đơn.

Căn cứ vào văn bản trình bày của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định phần đất tranh chấp (theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý ngày 06/5/2021 và ngày 23/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P thực hiện: diện tích tranh chấp 54,8m² trong đó đất ở nông thôn 22,1m² (ONT diện tích nhà 18,9m²), cây lâu năm 32,7m² thuộc thửa 369, tờ bản đồ số 20 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S ngày 30/5/2018 nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn công nhận phần diện tích tranh chấp 54,8m².

Xét: việc bị đơn yêu cầu nguyên đơn bồi thường chi phí tham gia tố tụng về tiền công lao động bị mất cũng như chi phí sao lục hồ sơ do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên yêu cầu này của bị đơn không có cơ sở chấp nhận.

Quá trình tố tụng giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm: bị đơn trình bày trường hợp yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, buộc bị đơn phải tháo dỡ nhà thì bị đơn không có ý kiến và không có yêu cầu. Bị đơn cho rằng đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý trả đất, không đồng ý tháo dỡ nhà. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là phù hợp. Tuy nhiên để giải quyết triệt để vụ án cũng như việc thi hành án, tại cấp phúc thẩm ngày 17/4/2024 nguyên đơn ông Phan Văn S và vợ là bà Lê Thị Ngọc L1 đã tự nguyện bồi thường tài sản nhà, các công trình, cây trồng trên đất tranh chấp với tổng số tiền là 43.000.000 đồng.

Xét đây là ý chí tự nguyện bồi thường tài sản của vợ chồng nguyên đơn cho bị đơn là phù hợp.

Từ những phân tích trên với các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án Tòa án cấp sơ thẩm xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự, đã xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là đúng quy định pháp luật và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là phù hợp.

Xét kháng cáo của bị đơn có căn cứ chấp nhận một phần.

Đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

Về án phí dân sự phúc thẩm: người kháng cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Đinh Thanh V và bà Thiều Thị L.
  2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn S đối với bị đơn ông Đinh Thanh V, bà Thiều Thị L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Buộc bị đơn ông Đinh Thanh V, bà Thiều Thị L phải trả cho nguyên đơn ông Phan Văn S phần đất có diện tích 54.8m² thuộc thửa số 369, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương (trong đó có diện tích đất ở nông thôn là 22,1m², diện tích nhà là 18.9m²). Phần đất có tứ cận:

  • Phía Đông giáp thửa 415,
  • Phía Tây giáp thửa 360, 361,
  • Phía Nam giáp thửa 237,
  • Phía Bắc giáp đường bê tông.

(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phan Văn S và bà Lê Thị Ngọc L1 đồng ý thanh toán giá trị tài sản trên phần đất diện tích 54,8m² cho ông Đinh Thanh V, bà Thiều Thị L, số tiền 43.000.000 đồng (bốn mươi ba triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Buộc ông V, bà L có trách nhiệm tháo dỡ di dời các tài sản nhà phụ diện tích 7,9m², nhà vệ sinh diện tích 4m², giá đỡ bồn nước 01m², cao 03m, mái che 07m², 01 bồn nước 1.000 lít, 02 cây sưa, 01 bụi tầm vông (17 cây). Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/5/2018 cho ông Phan Văn S.

Trường hợp ông V, bà L không tự tháo dỡ, di dời tài sản nêu trên sẽ bị cưỡng chế, nếu có thiệt hại xảy ra ông V, bà L phải tự chịu theo Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp có tài sản phát sinh sau khi có bản án thì đương sự phải tự tháo dỡ di dời, nếu có thiệt hại xảy ra, phải tự chịu, nếu không tự tháo dỡ, di dời sẽ bị cưỡng chế, nếu có thiệt hại xảy ra phải tự chịu theo quy định pháp luật.

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu Tòa án công nhận phần đất đang tranh chấp với nguyên đơn cho bị đơn và yêu cầu bồi thường chi phí đi lại tham gia tố tụng là tiền công lao động bị mất và chi phí sao lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 7.083.000 đồng (bảy triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng). Bị đơn phải chịu 7.083.000 đồng (bảy triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng). Bị đơn đã nộp tạm ứng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), buộc bị đơn phải nộp tiếp số tiền 2.083.000 đồng (hai triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng) để trả lại cho nguyên đơn.

Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn ông Phan Văn S tự nguyện chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) đã thực hiện xong.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Nguyên đơn ông Phan Văn S được hoàn trả số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2016/00043643 ngày 23/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn phải nộp số tiền 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0008678 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Bà L, ông V còn phải nộp 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng).

  1. Về án phí phúc thẩm: hoàn trả cho ông V, bà L mỗi người số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002898, 0002899 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo;
  • - TAND huyện Phú Giáo;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ hành chính tư pháp;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 254/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

  • Số bản án: 254/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger