|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 254/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-9-2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Bê
Bà Nguyễn Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐ-ST ngày 12/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1 47/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thanh H, sinh ngày 10/8/1982 (vắng mặt)
Nơi thường trú: tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: anh Lê Văn D, sinh ngày 06/12/1979 (vắng mặt)
Nơi thường trú cuối cùng của anh D tại Việt Nam: tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện anh D đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Hoàng Thanh H trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh D được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 17/5/2005 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh D làm dâu và chung sống hòa thuận. Đến năm 2007 vì để thuận tiện công việc của vợ chồng nên chị, anh D chuyển về tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang sinh sống. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên cuối năm 2019 anh D đi lao động tại Đài Loan. Sau khi sang Đài Loan một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Kể từ năm 2022 vợ chồng không còn liên lạc với nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 02/2022 đến nay chị và anh D không ai quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Lê Văn D.
Về con chung: chị và anh D có 02 con chung là cháu Lê Hoàng D1, sinh ngày 21/02/2006 và cháu Lê Quang H1, sinh ngày 22/7/2010. Hiện cháu D1 đã trưởng thành và không bị hạn chế năng lực hành vi nên chị không yêu cầu giải quyết, còn cháu H1 do anh D hiện đang lao động nước ngoài, không đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng nên sau khi ly hôn chị đề nghị giao cháu H1 cho chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị H trình bày: Do bận công việc nên chị đề được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Anh Lê Văn D là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/6/2024 và 10/7/2024, ông Lê Văn Đ và bà Phạm Thị S là bố, mẹ đẻ của anh Lê Văn D cung cấp:
Về hôn nhân: chị H, anh D được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị H về nhà ông bà làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2019, anh D đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Sang Đài Loan vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng từ tháng 4 năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn kể từ đó vợ chồng chị H, anh D ít khi khi liên lạc với nhau. Biết được mâu thuẫn của các con ông, bà có khuyên bảo anh, chị bỏ qua mâu thuẫn để cùng chăm sóc con nhưng không được.
Về con chung: chị H và anh D có 02 con chung là cháu Lê Hoàng D1, sinh ngày 21/02/2006 và cháu Lê Quang H1, sinh ngày 22/7/2010. Hiện cháu D1 đã trưởng thành, còn cháu H1 đang sinh sống cùng chị H từ nhỏ.
Ngoài ra, anh D chưa về thăm gia đình lần nào kể từ khi đi lao động. Sau khi sang Đài Loan anh D vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông đã thông báo cho anh D biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị H và anh thì anh D cho biết: anh đồng ý ly hôn với chị H và đề nghị giao con chung theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh không cung cấp địa chỉ nơi làm việc, nơi ở và ý kiến bằng văn bản cho Tòa án được. Anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Cháu Lê Quang H1 trình bày: cháu hiện đang sinh sống cùng mẹ tại tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cháu được mẹ chăm sốc đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, được đi học đầy đủ. Hiện bố cháu đang lao động ở nước ngoài nên nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn ở cùng mẹ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Hoàng Thanh H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Lê Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Hoàng Thanh H, biên bản lấy lời khai của ông Lê Văn Đ, bà Phạm Thị S là bố mẹ đẻ của anh Lê Văn D thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Hoàng Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Lê Văn D không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thanh H.
Về hôn nhân: chị Hoàng Thanh H được ly hôn anh Lê Văn D.
Về con chung: chị và anh D có 02 con chung là cháu Lê Hoàng D1, sinh ngày 21/02/2006 và cháu Lê Quang H1, sinh ngày 22/7/2010. Hiện cháu D1 đã trưởng thành không giải quyết, còn cháu H1 đang ở với chị H từ nhỏ. Do anh D hiện đang lao động tại nước ngoài nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không đảm bảo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lê Quang H1 cho chị Hoàng Thị H2 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Chị H2 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Chị Hoàng Thanh H khởi kiện xin ly hôn anh Lê Văn D và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Công văn số 14473/QLXNC-P3 ngày 08/7/2024 của Cục Q-Bộ C cung cấp, anh D xuất cảnh gần nhất ngày 29/12/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, anh D được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh D là bị đơn có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có bị đơn là anh Lê Văn D ở nước ngoài, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về việc vắng mặt đương sự:
Đối với nguyên đơn chị Hoàng Thanh H vắng mặt, nhưng xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H.
Đối với bị đơn anh Lê Văn D: Căn cứ lời khai của nguyên đơn chị H, ông Lê Văn Đ, bà Phạm Thị S (bố, mẹ đẻ của anh D) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh D ở Việt Nam là: tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh D thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho anh D biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị Hoàng Thanh H và anh Lê Văn D. Gia đình anh D cho biết anh D vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh D không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh D tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4]. Về hôn nhân: chị Hoàng Thanh H và anh Lê Văn D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 17/5/2005 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh D phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Lê Văn D.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H, anh D chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên cuối năm 2019 anh D đi lao động tại Đài Loan. Sau khi anh D sang Đài Loan một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Theo chị H trình bầy Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Chị H xác định vợ chồng không còn liên lạc từ năm 2022 đến nay. Mặt khác, ông Lê Văn Đ, bà Phạm Thị S (bố, mẹ đẻ của anh D) cũng xác nhận chị H và anh D có mâu thuẫn được gia đình hòa giải nhưng không được. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị H, anh D không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh D là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5]. Về nuôi con chung: chị H và anh D có 02 con chung là cháu Lê Hoàng D1, sinh ngày 21/02/2006 và cháu Lê Quang H1, sinh ngày 22/7/2010. Hiện cháu D1 đã trưởng thành chị H không yêu cầu giải quyết. Cháu Lê Quang H1, hiện đang ở cùng chị, chị đề nghị giao cháu H1 cho chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn, cháu H1 có nguyện vọng ở cùng mẹ nếu bố mẹ ly hôn.
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử thấy: anh D hiện đang lao động tại Đài Loan nên không đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Cháu H1 trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Mặt khác, từ khi anh D đi nước ngoài cháu H1 được chị H nuôi dưỡng, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, việc giao cháu H1 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn sẽ đảm bảo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H giao cháu Lê Quang H1, sinh ngày 22/7/2010 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi sau khi ly hôn là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn anh Lê Văn D có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh D thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp anh Lê Văn D có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản, công nợ: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị Hoàng Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo: Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, anh D đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, chị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thanh H.
- Về hôn nhân: Chị Hoàng Thanh H được ly hôn anh Lê Văn D.
- Về con chung: Giao cháu Lê Quang H1, sinh ngày 22/7/2010 cho chị Hoàng Thanh H nuôi dưỡng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn. Anh Lê Văn D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh D thực hiện quyền này.
- Về án phí: chị Hoàng Thanh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001247 ngày 11/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Hoàng Thanh H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Hoàng Thanh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Lê Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 254/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 254/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị H và anh D
