Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 254/2024/DS – ST

Ngày: 08 – 8 – 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng,

hợp đồng thế chấp tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thanh Vân
  2. Ông Trần Thanh Việt.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” thụ lý số 304/2024/TLST – DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 427/2024/QĐXXST – DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 429/2024/QĐST – DS ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (tên viết tắt B)
  2. Địa chỉ trụ sở: Tháp BIDV – số A T, Phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Phan Văn T, chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Người được ủy quyền: ông Nguyễn Minh T1-Trưởng Phòng Khách hàng cá nhân của B, chi nhánh A và bà Lê Thị Trúc L-Chuyên viên Phòng Khách hàng cá nhân của B, chi nhánh A (theo Quyết định ủy quyền lại số 183/QĐ – B.AG ngày 02/5/2024).

  3. Bị đơn: Ông Hàng Lạc M, sinh năm 1974
  4. Địa chỉ: Số A, đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu L1, sinh năm 1970
  6. Địa chỉ: Số A, đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, có mặt bà Lê Thị Trúc L; ông Nguyễn Minh T1, ông Hàng Lạc M vắng mặt, không có lý do; bà Nguyễn Thị Thu L1 vắng mặt và có đề nghị được vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (tên viết tắt B), các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Lê Thị Trúc L trình bày:

Ông Hàng Lạc M là nhân viên lâu năm của B, chi nhánh A. Thời gian qua, B có cho ông Hàng Lạc M vay nhiều lần tiền, cụ thể:

  • - Hợp đồng thứ nhất: Ngày 11/01/2022, B cho ông M vay số tiền 250.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/552109/HĐTD ngày 11/01/2022, mục đích vay để mua xe ôtô tải vận chuyển hàng hóa, nhãn hiệu Thaco. Thỏa thuận thời hạn vay là 60 tháng (từ ngày 11/01/2022 đến ngày 11/01/2027), lãi suất cho vay trong hạn 7,2%/năm (áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ thời điểm giải ngân lần đầu) và sau đó được điều chỉnh 06 tháng/lần vào các ngày 01/04 và 01/10 hàng năm theo thông báo lãi suất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lịch trả nợ gốc và lãi định kỳ vào ngày 15 hàng tháng.
  • Để bảo đảm cho khoản vay này, ông M cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thu L1 thế chấp lại chiếc xe mà họ vay tiền mua, có biển số 67C-136.44 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 005149 do Phòng C Công an tỉnh A cấp ngày 18/12/2021, chủ sở hữu là ông Hàng Lạc M. Việc thế chấp tài sản được ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/552109/HĐBĐ ngày 11/01/2022, giữa bên thế chấp là ông Hàng Lạc M và bà Nguyễn Thị Thu L1 với bên nhận thế chấp là B, chi nhánh A, được công chứng tại Văn phòng C1 cùng ngày và đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng ngày 13/01/2022.
  • Ngày 11/01/2022, ông M nhận đủ số tiền vay 250.000.000 đồng. Từ sau ngày giải ngân đến hết ngày 31/08/2023, ông M đã thực hiện thanh toán được 82.220.000 đồng tiền gốc, 26.885.000 đồng tiền lãi thì ngưng đến nay.
  • - Hợp đồng thứ hai: Ngày 03/10/2022, B, chi nhánh A tiếp tục cho ông M vay số tiền là 500.000.000 đồng có ký kết Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/552109/HĐTD. Mục đích vay, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân bên vay và gia đình. Thỏa thuận thời hạn vay 12 tháng (từ ngày 03/10/2022 đến ngày 03/10/2023). Lãi suất vay 6,8%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lịch trả lãi hàng tháng vào ngày 28 hàng tháng. Món nợ này không có tài sản bảo đảm.
  • Từ sau ngày giải ngân đến hết ngày 31/08/2023, ông Hàng Lạc M đã thực hiện thanh toán được 9.758.321 đồng tiền gốc và 21.987.908 đồng tiền lãi thì ngưng đến nay.
  • - Hợp đồng thứ 3: Vào ngày 20/09/2021, B có phát hành thẻ tín dụng cho ông M theo Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 01/2021/552109/HĐPHTTD ngày 20/09/2021. Hạn mức tín dụng cấp là 200.000.000 đồng, lãi suất vay 18%/năm, lịch trả gốc và lãi vào ngày 25 hàng tháng. Món nợ này không có tài sản bảo đảm.
  • Từ sau ngày giải ngân đến hết ngày 31/08/2023, ông M đã thực hiện thanh toán được 46.907.764 đồng tiền gốc, 69.928.767 đồng tiền lãi thì ngưng đến nay.

Do ông M vi phạm nghĩa vụ nên 03 món nợ trên đã chuyển sang nhóm nợ quá hạn từ ngày 30/11/2023. Thời gian qua, B nhiều lần ra thông báo, mời ông M làm việc với nội dung thu hồi nợ trước hạn nhưng ông M vẫn không thực hiện làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ngân hàng nên ngân hàng yêu cầu ông M cùng bà L1 trả số tiền còn nợ trên. Do tài sản đang thế chấp bà L1 thừa nhận đang quản lý, sử dụng nên B không yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản này.

Bị đơn là ông Hàng Lạc M không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Theo văn bản trình bày ý kiến ngày 25/6/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thu L1 trình bày:

Bà là vợ của ông Hàng Lạc M. Do cần phải có xe tải phục vụ cho việc kinh doanh đường đậu của vợ chồng bà nên vợ chồng bà có vay của B số tiền 250.000.000 đồng để mua xe. Để bảo đảm nợ vay này, vợ chồng bà có thế chấp lại chính chiếc xe tải vay tiền để mua, có biển số 67C-136.44 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 005149 ngày 18/12/2021 mang tên ông M. Hiện nay, xe tải này bà đang quản lý, sử dụng. Nay, đối với hợp đồng vay tiền để mua xe tải bà đồng ý trả nợ cho B. Đối với những khoản vay còn lại của ông M, bà không biết, ông M không mang tiền vay về cho bà nên bà không đồng ý trả.

Tại phiên tòa:

Bà Lê Thị Trúc L trình bày: Do Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/552109/HĐTD ngày 03/10/2022 không được vợ của ông M ký tên cùng vay tiền nên B xác định không yêu cầu và L liên đới với ông M để trả tiền còn nợ theo hợp đồng này. Các yêu cầu còn lại, B vẫn giữ nguyên, cụ thể, đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông M, bà L có nghĩa vụ liên đới trả cho B số tiền còn nợ theo 02 hợp đồng tín dụng sau:

  • Theo Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 01/2021/552109/HĐTD ngày 20/9/2021: yêu cầu ông M, bà L trả tổng số tiền là 180.389.836 đồng, trong đó có vốn vay còn nợ là 153.092.236 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 27.297.600 đồng.
  • Theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/552109/HĐTD ngày 11/01/2022: yêu cầu ông M, bà L trả tổng số tiền là 185.354.695 đồng, trong đó có vốn vay còn nợ là 167.780.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 08/8/2023 là 17.574.695 đồng.

Kể từ ngày 09/8/2024, ông M, bà L còn phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo 02 hợp đồng trên cho B.

Trường hợp, ông M và bà L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền, B có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/552109/HĐBĐ ngày 11/01/2022, giữa bên thế chấp là ông M và bà Thu L1 với bên nhận thế chấp là B, chi nhánh A. Tài sản thế chấp là 01 chiếc xe ôtô biển số 67C – 136.44 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 005149 do Phòng C Công an tỉnh A cấp ngày 18/12/2021 mang tên ông Hàng Lạc M. Hiện nay, xe này do bà L1 quản lý sử dụng.

Đối với Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/552109/HĐTD ngày 03/10/2022: B yêu cầu ông M trả tổng số tiền là 560.495.196 đồng, trong đó có vốn vay còn nợ là 490.241.679, lãi tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 70.253.517 đồng; yêu cầu ông M còn phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh kể từ ngày 09/8/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

  1. Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp giao dịch dân sự, cụ thể là hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Bị đơn có nơi thường trú hợp pháp tại phường M, thành phố L. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
  2. Ông Nguyễn Văn Bé T2 là người được ông Phan Văn T ủy quyền theo Quyết định ủy quyền số 545/QĐ-BIDV ngày 22/6/2021. Ngày 02/5/2024, ông T2 ủy quyền lại cho ông Nguyễn Minh T1 và bà Lê Thị Trúc L. Xét thấy, việc ủy quyền được thực hiện đúng trình tự, hình thức và nội dung ủy quyền phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  3. Tại các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản ghi nhận địa chỉ cư trú của ông M và bà L là nhà số A, đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017NQ – HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng của theo quy định tại Điều 177 của BLTTDS cho ông M, bà L. Tại phiên tòa hôm nay, ông M tiếp tục vắng mặt lần thứ 2, không có lý do, bà L có ý kiến được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông M, bà L và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời khai của các đương sự để xem xét, giải quyết vụ án.
  4. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể không yêu cầu bà L liên đới nghĩa vụ với ông M trả cho B số tiền còn nợ xuất phát từ Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/552109/HĐTD ngày 03/10/2022. Xét thấy, yêu cầu này là tự nguyện, do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 của BLTTDS, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

Về nội dung:

  1. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, nguyên đơn cung cấp bản sao văn bản Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 01/2021/552109/HĐPHTTD ngày 20/09/2021, đính lèm bản điều khoản phát hành thẻ tín dụng, Hợp đồng tín dụng số 01/2022/552109/HĐTD, ngày 11/01/2022, Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/552109/HĐBĐ, ngày 11/01/2022 đính kèm văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 13/01/2022 (bản photo), Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/552109/HĐTD, ngày 03/10/2022.
  2. Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 01/2022/552109/HĐTD ngày 11/01/2022, Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/552109/HĐBĐ ngày 01/01/2022 và sự thừa nhận của bà L là đủ cơ sở để xác định giữa B và ông M, bà L tự nguyện giao kết hợp đồng vay tài sản có thời hạn và có lãi theo quy định tại Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (viết tắt BLDS 2015). Quá trình thực hiện hợp đồng, ông M, bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ và số tiền còn nợ đã chuyển sang nhóm nợ quá hạn. Việc vợ chồng ông M, bà L thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên cho vay. Do đó, căn cứ khoản 14, 16 Điều 4 và Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 466 của BLDS 2015, Hội đồng xét xử quyết định buộc ông M, bà L phải có nghĩa vụ trả cho B số tiền còn nợ là 185.354.695 đồng, trong đó có tiền vốn là 167.933.369 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 08/8/2024 17.574.695 đồng.
  3. Để bảo đảm nợ vay, ông M, bà L có thế chấp tài sản là xe ô tô biển số 67C-136.44 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 67005149 ngày 18/12/2021 mang tên Hàng Lạc M. Việc thế chấp được lập thành văn bản, được chứng nhận tại văn phòng công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm. Từ đó, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cả các chủ thể tham gia theo quy định tại các Điều 319, 320, 321, 322, 323 của BLDS 2015. Do đó, trường hợp ông M, bà L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, B có quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định tại Điều 299 của BLDS 2015. Đồng thời, khi ông M, bà L thực hiện nghĩa vụ đầy đủ thì ông bà được nhận lại tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 302 của BLDS 2015.
  4. Căn cứ văn bản Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 01/2021/552109/HĐTD ngày 20/9/2021 thể hiện nội dung, ông M và bà L đề nghị B phát hành thẻ tín dụng với hạn mức 200.000.000 đồng, ông M ký tên, ghi rõ họ tên tại mục chủ thẻ chính và bà L ký tên, ghi rõ họ tên tại mục chủ thẻ phụ. Như vậy, đủ căn cứ để xác định bà L là đồng sở hữu thẻ tín dụng được cấp. Do đó, việc bà L cho rằng bà không biết đến khoản tiền vay này là không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét thấy, quá trình sử dụng thẻ, ông M, bà L vi phạm nghĩa của bên vay. Do đó căn cứ khoản 14, 16 Điều 4 và Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (viết tắt BLDS 2015), Hội đồng xét xử buộc ông M, bà L phải có nghĩa vụ trả cho B số tiền còn nợ là 180.389.836 đồng, trong đó có vốn vay còn nợ là 153.092.236 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 27.297.600 đồng.
  5. Đối với Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/552109/HĐTD ngày 03/10/2022: Xét thấy, việc ông M không thực hiện nghĩa vụ đúng với thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, căn cứ khoản 14, 16 Điều 4 và Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 466 của BLDS 2015, Hội đồng xét xử buộc ông M phải có trách nhiệm trả cho B tổng số tiền là 560.495.196 đồng, trong đó có vốn vay còn nợ là 490.241.679, lãi tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 70.253.517 đồng.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Ngân hàng TMCP Đ được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.500.000 (mười chín triệu năm trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002100 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

Bị đơn phải chịu án phí là 26.420.000 (hai mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi nghìn) đồng.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí là 18.287.000 (mười tám triệu hai trăm tám mươi bảy) nghìn đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều 73, Điều 147, Điều 177, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các Tổ chức tín dụng;
  • - Các Điều 299, 302, 318, 319, 323, 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ, do Ngân hàng TMCP Đ tự nguyện rút, cụ thể Ngân hàng TMCP Đ không yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu L1 có nghĩa vụ liên đới với ông Hàng Lạc M trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/552109/HĐTD ngày 03/10/2022.
  2. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ đối với ông Hàng Lạc M, bà Nguyễn Thị Thu L1.
    1. Buộc ông Hàng Lạc M và bà Nguyễn Thị Thu L1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 365.744.531 (ba trăm sáu mươi lăm triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm ba mươi mốt) đồng, cụ thể:
      • - Theo Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 01/2021/552109/HĐTD ngày 20/9/2021: tổng số tiền phải trả là 180.389.836 đồng, trong đó có vốn vay còn nợ là 153.092.236 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 27.297.600 đồng.
      • - Theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/552109/HĐTD ngày 11/01/2022: tổng số tiền phải trả là 185.354.695 đồng, trong đó có vốn vay còn nợ là 167.780.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 17.574.695 đồng.

      Kể từ ngày 09/8/2024, ông M, bà L1 còn phải trả lãi và phí phát sinh theo thỏa thuận tại hai hợp đồng tín dụng trên.

      Trường hợp, ông M, bà L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/552109/HĐBĐ ngày 11/01/2022. Tài sản thế chấp là xe ô tô biển số 67C-136.44 (số máy JT715874, số khung RNHA500BKHC033430) theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 005149 do Phòng Cảnh Sát Giao thông CA tỉnh C cấp ngày 18/12/2021, chủ sở hữu là ông Hàng Lạc M.

    2. Buộc ông Hàng Lạc M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 560.495.196 (năm trăm sáu mươi triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn một trăm chín mươi sáu) đồng. Trong đó, bao gồm vốn vay còn nợ là 490.241.679, lãi tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 70.253.517 đồng.

      Kể từ ngày 09/8/2024, ông M còn phải trả lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng trên.

    3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Ngân hàng TMCP Đ được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.500.000 (mười chín triệu năm trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002100 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

      Ông Hàng Lạc M phải chịu án phí là 26.420.000 (hai mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi nghìn) đồng.

      Ông Hàng Lạc M và bà Nguyễn Thị Thu L1 phải chịu án phí là 18.287.000 (mười tám triệu hai trăm tám mươi bảy nghìn) đồng.

    4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

      Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

      (Đã giải thích theo Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP.LX
  • - Chi cục THADS TP.LX;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Phạm Xuân Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 254/2024/DS – ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản

  • Số bản án: 254/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần y.c kk
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger