Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 254/2025/HS-ST

Ngày 22-10-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Hồng Hạnh

Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Diệu

Ông Trương Thanh Tuyết

Bà Trần Thị Thìn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Công Thành Đạt - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Thạch Kim Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (cơ sở 2) tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 235/2025/HSST ngày 16 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265A/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 168/2025/HSST-QĐ ngày 29 tháng 9 năm 2025, đối với:

- Bị cáo: Lê Thị Vân A sinh ngày 26/02/1997 tại tỉnh Bình Phước (nay là tỉnh Đồng Nai); Chứng minh nhân dân số [...], cấp ngày 19/8/2012 do Công an tỉnh B cấp.

Nơi cư trú: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: buôn bán; con ông Lê Văn S, sinh năm 1975 (đã chết) và bà Lê Thị D, sinh năm 1975; bị cáo có 02 người em, bị cáo là con cả trong trong gia đình; có chồng là ông Đàm Quang T, sinh năm 1990 và 05 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh ngày 2023; tiền án, tiền sự: không; ngày 15/11/2024, bị bắt theo quyết định truy nã, tạm giữ và tạm giam để điều tra về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” xảy ra ngày 11/7/2017 tại thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Ngày 16/5/2025, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tuyên phạt 12 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự số 29/2025/HS-ST. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đ thuộc tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lương Xuân D1 – Công ty L - thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: xã B, tỉnh Đồng Nai. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị hại:

  • 1. Bà Đặng Thị Băng C, sinh năm 1970; nơi cư trú: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Nai; (có mặt)
  • 2. Ông Lê Xuân H, sinh năm 1990; nơi cư trú: khu phố T, phường B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961; nơi cư trú: ấp Đ, xã T, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)
  • 2. Bà Nguyễn Thị Lê H1, sinh năm 1989; nơi cư trú: khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)
  • 3. Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)
  • 4. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ án thứ nhất: Tháng 6 năm 2021, bà Lê Thị N2, sinh năm 1961 cần thanh lý vườn cây cao su tại ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) diện tích khoảng 10ha để trồng mới nên bà Nguyễn Thị Lê H1, sinh năm 1989 (con gái bà N2) đã đăng thông tin trên facebook. Đến những ngày giữa tháng 6 năm 2021, thông qua môi giới giới thiệu, sau khi được bà H1 trực tiếp dẫn đi xem vườn cây cao su, Lê Thị Vân A thoả thuận mua vườn cao su thanh lý với giá 4.400.000.000 đồng và đặt cọc số tiền 80.000.000 đồng, rồi Vân A đăng thông tin thanh lý vườn cao su trên facebook. Sau đó, đã có vài người liên hệ với Vân A để xem vườn cây nhưng do cây kích thước nhỏ và thưa cây nên ra giá chỉ khoảng 2.900.000.000 đồng nên Vân A không đồng ý.

Đến những ngày cuối tháng 6 năm 2021, thông qua môi giới bà Đặng Thị Băng C biết thông tin Vân A có nguồn cây cao su thanh lý ở xã T, tỉnh Đồng Nai nên chủ động kết bạn zalo, liên hệ với Vân A để tìm hiểu và hẹn ngày 04/7/2021 đi xem vườn cây cao su. Quá trình dẫn bà C đi xem vườn cây, mặc dù chỉ mới đặt cọc 80.000.000 đồng nhưng Vân A nói với bà C là đã đặt cọc với chủ vườn cây số tiền 2.000.000.000 đồng và ra giá bán lại cho bà C với giá 4.500.000.000 đồng; qua khảo sát vườn cây bà C chỉ đồng ý mua với giá 3.500.000.000 đồng nhưng thời điểm này Vân A không đồng ý nên các bên ra về. Tuy nhiên, do đang cần tiền để trả nợ và trả tiền mua vườn cây cao su khác nên ngày 05/7/2021 Vân A chủ động liên hệ với bà C đồng ý bán vườn cây cao su với giá 3.500.000.000 đồng và hẹn gặp bà C tại thành phố Đ (nay là phường B) để ký hợp đồng đặt cọc thì bà C đồng ý. Để bà C tin tưởng ký hợp đồng đặt cọc, Vân A đã tự viết, tự ký hợp đồng đặt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng mua vườn cây cao su thanh lý với bà H1. Sau khi được xem hợp đồng đặt cọc, bà C tin tưởng đồng ý nên Vân A viết “Hợp đồng mua bán cây cao su thanh lý” với nội dung thoả thuận: Vân Anh bán cho bà Đặng Thị Băng C lô cao su thanh lý ở ấp S, xã T, huyện H diện tích 10ha, giá tiền 3.500.000.000 đồng, nhận cọc 300.000.000 đồng, hẹn đến ngày 07/7/2021 đặt cọc thêm 800.000.000 đồng; số tiền còn lại 45 ngày sau chuyển hết và tiến hành cắt cây. Sau khi ký hợp đồng, bà C chuyển khoản đặt cọc cho Vân A số tiền 300.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng S1 số 1017210947. Sau khi nhận tiền cọc của bà C, ngày 06/7/2021 Vân A liên hệ gặp bà H1 để bồi cọc thêm 100.000.000 đồng, huỷ hợp đồng đặt cọc số tiền 80.000.000 đồng và lập “Hợp đồng mua bán cây cao su thanh lý trên đất” với nội dung thoả thuận: Vân A đồng ý mua vườn cây cao su thanh lý của bà Lê Thị N2 với giá tiền 4.400.000.000 đồng, nhận cọc trước nhận cọc 180.000.000 đồng, thoả thuận đến ngày 11/7/2021 bồi cọc thêm số tiền 220.000.000 đồng, thoả thuận đến ngày 20/7/2021 bồi cọc thêm số tiền 500.000.000 đồng, lần cuối thanh toán đủ số tiền 3.500.000.000 đồng; nếu bên mua chậm trễ bồi cọc thì mất cọc, nếu bên bán không bán cho bên mua thì phải đền cọc gấp 02 lần.

Theo như thoả thuận “Hợp đồng mua bán cây cao su thanh lý” lập ngày 05/7/2021, ngày 08/7/2021 bà C chuyển khoản đặt cọc cho Vân A số tiền 800.000.000 đồng, Vân A viết giấy xác nhận, ký tên, điểm chỉ và đóng dấu “Công ty TNHH T1 bất động sản và cầm đồ Ngân Đại” xác nhận nội dung: Đã nhận cọc đủ số tiền 1.100.000.000 đồng, số tiền 2.400.000.000 đồng còn lại thanh toán sau 10 ngày cắt cây [bút lục 129]. Tuy nhiên, sau khi bà C chuyển khoản đặt cọc số tiền 800.000.000 đồng nhưng đến ngày 11/7/2021 và ngày 20/7/2021 Vân A không thực hiện việc bồi cọc như thoả thuận tại “Hợp đồng mua bán cây cao su thanh lý trên đất” đã ký với bà H1 nên mất cọc. Đến ngày 02/9/2021, bà C chuyển khoản thêm số tiền 20.000.000 đồng cho Vân A.

Quá thời hạn bàn giao vườn cây thanh lý theo thoả thuận, bà C liên lạc với Vân A qua Zalo thì Vân A đưa ra nhiều lý do để xin gia hạn vườn cây cao su đến ngày 12/11/2021 với bà C. Ngày 12/11/2021, không thấy Vân A bàn giao vườn cây để khai thác như thoả thuận, lúc này bà C tìm hiểu thì mới biết chủ vườn cao su là bà Lê Thị N2 và được biết Vân A chỉ mới đặt cọc 180.000.000 đồng chứ không phải 2.000.000.000 đồng như hợp đồng đặt cọc Vân A cung cấp ban đầu. Sau đó, bà C nhiều lần yêu cầu Vân A trả lại số tiền 1.120.000.000 đồng đặt cọc do không có tiền nên Vân A gửi 01 hình ảnh giao dịch chuyển khoản trả số trả số tiền 200.000.000 đồng qua dịch vụ internet banking và 01 hình ảnh “Giấy nộp tiền” tại Ngân hàng V chi nhánh L1 (địa chỉ: phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai) đề ngày 07/12/2021 với số tiền 400.000.000 đồng đến số tài khoản của bà C, sau đó Vân A cắt liên lạc với bà C nên bà C đã gửi đơn tố giác Lê Thị Vân A.

Vụ án thứ hai: Khoảng tháng 01/2022, do cần tiền tiêu xài cá nhân Lê Thị Vân A sử dụng tài khoản facebook tên “Van Anh” đăng thông tin bán vườn cây cao su thanh lý diện tích 1,3ha tại Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay thuộc xã N, tỉnh Đồng Nai). Do có nhu cầu mua cây cao su thanh lý nên ông Lê Xuân H, sinh năm 1990 đã liên hệ với Vân A để tìm hiểu. Ngày 16/01/2022, Vân A trực tiếp dẫn ông H đi đến 01 vườn cây cao su tại Thôn B, xã Đ, huyện B Tại đây, Vân A tự nhận là vườn cây cao su là của mình và đang muốn bán cây thanh lý với giá 65.000.000 đồng. Sau khi đi xem vườn cây, ông H đồng ý mua nên đã chuyển khoản đặt cọc số tiền 20.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng M đến tài khoản Ngân hàng S1 số 1017210947 của Lê Thị Vân A, đồng thời Vân A viết “GIẤY BÁN CÂY CAO SU” cho ông H [bút lục 53]. Ngày 20/02/2022, ông H đến vườn cây cao su để khai thác thì mới biết vườn cây cao su là của ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1973, địa chỉ: thôn B, xã N, tỉnh Đồng Nai nên đã gửi đơn tố giác Lê Thị Vân A.

Kết luận giám định số: 109/KL-KTHS ngày 16 tháng 02 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  • - 01 dấu vết đường vân mẫu cần giám định, ký hiệu A1 với dấu vân tay ngón “Trỏ trái” trên danh, chỉ bản mẫu so sánh, ký hiệu M là của cùng một người
  • - 02 dấu vết đường vân mẫu cần giám định, ký hiệu A2, A4 với dấu vân tay ngón “Trỏ phải” trên danh, chỉ bản mẫu so sánh, ký hiệu M là của cùng một người.

Kết luận giám định số: 225/KL-KTHS ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Chữ viết họ tên Lê Thị Vân A dưới mục “BIÊN BẢN” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết đứng tên Lê Thị Vân A trên mẫu so sánh ký hiệu M1-M7 do cùng một người viết ra.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội 02 lần trở lên.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị can Lê Thị Vân A thành khẩn khai báo.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

  • - Bị hại Lê Xuân H giao nộp 01 tờ giấy ghi “GIẤY BÁN CÂY CAO SU” (lưu trong hồ sơ vụ án).
  • - Bị hại Đặng Thị Băng C giao nộp 01 tờ giấy ghi “HỢP ĐỒNG MUA BÁN CÂY CAO SU THANH LÝ” (lưu trong hồ sơ vụ án).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đặng Thị Băng C yêu cầu bị can Lê Thị Văn A1 trả lại số tiền 1.120.000.000 đồng, bị can chưa bồi thường. Bị hại Lê Xuân H không yêu cầu bị can trả lại số tiền 20.000.000 đồng nên không đặt ra.

Tại bản Cáo trạng số 102/CT-VKSBP-P2 ngày 12/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lê Thị Vân A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: giữ nguyên nội dung Cáo trạng số 102/CT-VKSBP-P2 ngày 12/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị Vân A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 38, 50, 56 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 13 năm tù đến 15 năm tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (này là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai) với hình phạt 12 (mười hai) năm tù của bản án này; buộc bị cáo Lê Thị Vân A phải chấp hành hình phạt chung từ 25 năm tù đến 27 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và các bị hại.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nào khác nên không áp dụng.

- Bị cáo Lê Thị Vân A thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo xác định có ý định chiếm đoạt tiền của các bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho bà Đặng Thị Băng C số tiền 1.120.000.000 đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường cho ông Lê Xuân H số tiền 20.000.000 đồng.

- Bà Đặng Thị Băng C: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai.

- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo trong bài luận cứ bào chữa: thống nhất với tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có 05 con còn nhỏ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, xem xét giảm nhẹ thêm hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình làm việc bồi thường cho bị hại.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi các bị hại, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh tỉnh Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Vân A khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Vụ án thứ nhất: Tháng 6 năm 2021, Lê Thị Vân A đặt cọc số tiền 80.000.000 đồng mua thanh lý vườn cây cao su tại ấp S, xã T, tỉnh Đồng Nai diện tích khoảng 10ha của chị Nguyễn Thị Lê H1 với số tiền 4.400.000.000 đồng. Sau đó Vân A và Đặng Thị B thỏa thuận giá bán lại vườn cây cao su thanh lý của chị H1 với giá 3.500.000.000 đồng. Mặc dù biết rõ nếu đồng ý bán thì Lê Thị Vân A sẽ bị lỗ số tiền 900.000.000 đồng và bản thân không có khả năng tài chính để mua vườn cây nhưng để bà C tin tưởng đồng ý mua Vân A đưa ra thông tin gian dối nói đã thương lượng lại với chủ vườn đồng ý bán cho Vân A với giá 3.450.000.000 đồng và đã đặt cọc 300.000.000 đồng nhưng thực tế Vân A không thương lượng để chủ vườn giảm giá và cố tình giả mạo hợp đồng đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng. Các ngày 05/7/2021 và ngày 08/7/2021 bà C đã chuyển khoản đặt cọc cho Vân A tổng số tiền 1.100.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của bà C, Vân A chỉ dùng 100.000.000 đồng để bồi cọc cho chị H1 số tiền còn lại Vân A khai sử dụng vào mục đích trả nợ và tiều xài hết. Ngoài ra, theo thoả thuận giữa Vân A và chị H1 vào các ngày 11/7/2021 và ngày 20/7/2021 Vân A phải lần lượt bồi cọc thêm số tiền 220.000.000 đồng và 500.000.000 đồng nhưng Vân A không thực hiện. Đến ngày 02/9/2021, mặc dù đã vi phạm thời hạn đặt cọc với chị H1 nhưng Vân A vẫn tiếp tục nhận cọc của bà C số tiền 20.000.000 đồng. Tổng số tiền Vân A chiếm đoạt của bà C là 1.120.000.000 đồng.

Vụ án thứ hai: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, mặc dù không có thoả thuận mua lại vườn cây cao su của ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Thị H2 nhưng Lê Thị Vân A tự nhận là chủ vườn cây tại Thôn B, xã Đ, tỉnh Đồng Nai. Ngày 10 tháng 01 tháng 2022, Vân A thoả thuận bán và nhận cọc chiếm đoạt của anh Lê Xuân H số tiền 20.000.000 đồng.

Như vậy, bị cáo Lê Thị Vân A đã có hành vi gian dối đối với bà Đặng Thị Băng C và ông Lê Xuân H chiếm đoạt tổng cộng số tiền 1.140.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Do đó, Cáo trạng số 102/CT-VKSBP-P2 ngày 12/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được việc làm của mình là trái pháp luật, nhưng vì để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lừa dối chiếm đoạt tiền của các bị hại với tổng số tiền chiếm đoạt là 1.140.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, do vậy cần xử phạt bị cáo một mức án tù có thời hạn nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Lê Thị Vân A thực hiện nhiều lần, đối với nhiều bị hại khác nhau nhằm chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn. Cụ thể, bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hai lần: một lần đối với bà Đặng Thị Băng C với số tiền 1.120.000.000 đồng, và một lần đối với ông Lê Xuân H với số tiền 20.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, theo hồ sơ vụ án, còn thể hiện ngày 15/11/2024, bị bắt theo quyết định truy nã, tạm giữ và tạm giam để điều tra về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” xảy ra ngày 11/7/2017 tại thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Ngày 16/5/2025, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tuyên phạt 12 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự số: 29/2025/HS-ST. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đ thuộc tỉnh Đắk Lắk. Điều đó thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật

- Tình tiết giảm trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo còn 05 con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015;

Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà Đặng Thị Băng C: Trong quá trình phạm tội, bị cáo Lê Thị Vân A đã chiếm đoạt của bà C tổng cộng 1.120.000.000 đồng. Do đó buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho bị hại C.

Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Lê Xuân H: Trong quá trình phạm tội, bị cáo Lê Thị Vân A đã chiếm đoạt của ông H tổng cộng 20.000.000 đồng. Do đó buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho bị hại H.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng: 01 tờ giấy ghi “GIẤY BÁN CÂY CAO SU” (lưu trong hồ sơ vụ án); 01 tờ giấy ghi “HỢP ĐỒNG MUA BÁN CÂY CAO SU THANH LÝ” (lưu trong hồ sơ vụ án). Đây là tài liệu quan trọng, cần lưu trong hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử và thi hành án. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án, không hoàn trả cho các bên.

[7] Hành vi phạm tội trong vụ án này bị cáo thực hiện sau khi đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt tù của Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (này là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai), về hành vi phạm tội xảy ra năm 2017. Vì vậy, cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của bản án này với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.

[10] Về án phí: buộc bị cáo Lê Thị Vân A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo mức có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Lê Thị Vân A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; các điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025;

    Xử phạt bị cáo Lê Thị Vân A 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày tạm giam (ngày 15/11/2024). Tổng hợp hình phạt của Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (này là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai) với hình phạt 12 (mười hai) năm tù của bản án này; buộc bị cáo Lê Thị Vân A phải chấp hành hình phạt chung là 25 (hai mươi lăm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015;

    Buộc bị cáo trả lại cho bà Đặng Thị Băng C số tiền 1.120.000.000 (một tỷ một trăm hai mươi triệu) đồng.

    Buộc bị cáo trả lại cho ông Lê Xuân H số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

  4. Về xử lý vật chứng:

    Lưu hồ sơ vụ án: :

    • - 01 tờ giấy ghi “GIẤY BÁN CÂY CAO SU” (lưu trong hồ sơ vụ án);
    • - 01 tờ giấy ghi “HỢP ĐỒNG MUA BÁN CÂY CAO SU THANH LÝ” (lưu trong hồ sơ vụ án).
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm:

    - Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Vân A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

    - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Vân A phải chịu 46.200.000 (bốn mươi sáu triệu hai trăm nghìn) đồng.

  6. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Toà Phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM;
  • - Viện Phúc thẩm VKSND tối cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - CQĐT, PV06 Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Đồng Nai;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng
  • - Cổng thông tin điện tử TAND tối cao;
  • - Lưu: HSVA, THS, TNV. (20)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 254/2025/HS-ST ngày 22/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 254/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger