|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 254/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/6/2025. “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Giang.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm và bà Dương Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 132/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 154/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh ngày 25/10/1982.
- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh ngày 07/8/1979.
- Người làm chứng: Ông Trần Văn C1, sinh năm 1954.
- Người được chị Phạm Thị H ủy quyền về việc giao nhận các văn bản của Tòa án: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1981.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Hàn Quốc. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương (là bố đẻ của anh Trần Văn C). Vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố B, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương vào ngày 28/12/2005. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và không thống nhất trong làm ăn kinh tế khiến vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Đến tháng 3/2024 anh C đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, do cuộc sống vợ chồng đã có những mâu thuẫn từ trước, nay mỗi người ở một nơi, không thường xuyên quan tâm liên lạc nên tình cảm ngày càng lạnh nhạt, xa cách. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân không thể tồn tại, kéo dài được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C để sớm ổn định cuộc sống riêng.
- - Về con chung: Chị và anh C có 03 con chung là Trần Minh Q, sinh ngày 11/01/2007 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Trần Khánh D, sinh ngày 07/9/2011 và Trần Kim N1, sinh ngày 16/10/2015. Do các con chung đang ở ổn định cùng chị, anh C đang lao động tại nước ngoài nên khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án tiếp tục giao 02 con chung là Trần Khánh D và Trần Kim N1 cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị tự nguyện không yêu cầu anh C phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.
Tại lời khai của ông Trần Văn C1 (là bố đẻ của anh C) trình bày: Anh C hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc, địa chỉ cụ thể thì ông không biết, nhưng anh C thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh C biết. Anh C và chị H được tự do tìm hiểu, gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn hợp pháp. Thời gian sau này anh C đi nước ngoài, vợ chồng mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm, tin tưởng nên xảy ra mâu thuẫn. Bản thân ông đã nhiều lần khuyên bảo nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Nay chị H có đơn xin ly hôn là quyền quyết định của anh chị, ông đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết. Sau khi nhận các văn bản tố tụng, ông đã thông báo cho anh C biết. Anh C không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao đổi với ông qua điện thoại và xác định vợ chồng có mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị H làm đơn thì anh cũng đồng ý. Về con chung: Anh C nhất trí việc tiếp tục giao các con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Trần Khánh D và Trần Kim N1 có nguyện vọng được ở với mẹ là Phạm Thị H khi bố mẹ ly hôn.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Phạm Thị H có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Trần Văn C vắng mặt.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Trần Văn C; Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Khánh D, sinh ngày 07/9/2011 và Trần Kim N1, sinh ngày 16/10/2015 cho đến khi các con đủ 18 tuổi và chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Anh Trần Văn C hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc, có nơi cư trú trước khi xuất cảnh thôn P, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh C tại Hàn Quốc. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị H và gia đình anh C cung cấp địa chỉ, nhưng chị H và gia đình anh C không cung cấp được. Ông Trần Văn C1 (là bố đẻ của anh C) xác định anh C vẫn liên lạc với gia đình, ông đã thông báo về việc chị H có đơn xin ly hôn, anh C không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
[1.3] Tại phiên tòa, nguyên đơn chị H vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt; bị đơn anh C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Trần Văn C kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 28/12/2005, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thời gian sau này anh chị mỗi người ở một nơi nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt và không còn quan tâm đến nhau. Anh Trần Văn C không thể hiện quan điểm bằng văn bản nhưng thông qua việc liên lạc với gia đình, anh C xác định vợ chồng đã có những mâu thuẫn nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của chị H. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phạm Thị H và anh Trần Văn C đã trầm trọng, vợ chồng không ai quan tâm tới ai, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông qua lời khai của đại diện gia đình và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Trần Văn C là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị Phạm Thị H và anh Trần Văn C có 03 con chung là Trần Minh Q, sinh ngày 11/01/2007 hiện đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét, giải quyết; Trần Khánh D, sinh ngày 07/9/2011 và Trần Kim N1, sinh ngày 16/10/2015. Xét về thực tế, con chung Trần Khánh D, Trần Kim N1 đang ở ổn định và có nguyện vọng ở cùng với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Chị H và anh C đều có quan điểm giao cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Bản thân chị H hiện ở Việt Nam, có sức khỏe và đủ điều kiện để nuôi con tốt. Do đó, để đảm bảo sự ổn định và sự phát triển về mọi mặt của con chung, HĐXX chấp nhận giao cho chị Phạm Thị H nuôi dưỡng con chung Trần Khánh D, sinh ngày 07/9/2011 và Trần Kim N1, sinh ngày 16/10/2015 và chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu anh C có căn cứ cho rằng chị H không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì có quyền làm đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân gia đình), theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Trần Văn C.
- Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Khánh D, sinh ngày 07/9/2011 và Trần Kim N1, sinh ngày 16/10/2015 cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân và gia đình). Đối trừ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí do ông Nguyễn Văn N đã nộp theo Biên lai thu số 0001711 ngày 14/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
- Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Không ai được cản trở anh Triệu Văn P thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Chị Phạm Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Bản án số 254/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 254/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị H xin ly hôn anh Trần Văn C
