Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU

VỰC 5 – THANH HÓA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 254/2025/HN&GĐ-ST

Ngày 18/12/2025.

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lường Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Đình Quế

Ông Vũ Văn Doãn

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 162/2025/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 17/11/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1978

CCCD số: [...]xxx

Địa chỉ: Thôn F V, xã H, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983

CCCD số: [...]xxx

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn anh Nguyễn Văn T. Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/10/2025, bản tự khai ngày 10/11/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày như sau:

Về hôn nhân:

Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện H (nay là xã Đ), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 22/9/2016. Từ khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tình cảm vợ chồng không hòa hợp, quan điểm sống của vợ chồng trái ngược nhau. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 03/2019 đến năm 2022 chị có làm đơn ly hôn nhưng suy nghĩ lại nên vợ chồng lại quay về đoàn tụ nhưng vẫn không hòa hợp, mâu thuẫn tiếp tục sảy ra và vợ chồng chị đã chính thức ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con:

Vợ chồng không có con chung, hiện tại chị cũng không có thai nghén gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và công nợ:

Vợ chồng không có tài sản, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn – anh Nguyễn Văn T:

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành giao Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Toà án cho anh T biết tại địa chỉ chị N cung cấp nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Chị N có đơn đề nghị Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ về sự có mặt, vắng mặt của anh T tại địa phương và thông tin từ bố mẹ đẻ anh T.

*Tại các buổi xác minh tại gia đình anh Nguyễn Văn T, Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà Trịnh Thị K, ông Nguyễn Văn T1 thể hiện nội dung như sau:

Ông bà là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T và là bố mẹ chồng của chị Nguyễn Thị N. Anh T và chị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2016. Sau khi kết hôn, anh T và chị N chung sống cùng gia đình ông bà. Thời gian đầu anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2018 thì vợ chồng anh chị có biểu hiện rạn nứt, cụ thể lý do rạn nứt thì ông bà không biết. Khi sảy ra khúc mắc thì ông bà và cả công an xã, trưởng thôn Thiều Xá 1 có đứng ra hòa giải nhưng vợ chồng anh chị không đoàn tụ được, mỗi người sống mỗi nơi từ năm 2022 đến nay. Vợ chồng anh chị chưa có con chung, chị N không yêu cầu về phần tài sản nên ông bà không có ý kiến gì. Hiện tại anh T đang làm việc trong miền nam, anh T vẫn liên lạc với ông bà qua điện thoại nhưng anh T không cho ông bà biết địa chỉ cụ thể nên ông bà không cung cấp được cho Tòa án. Nay chị N làm đơn xin ly hôn anh T ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định và ông bà đồng ý nhận thay văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết có trách nhiệm thông báo lại cho anh T biết.

Tại biên bản xác minh ngày 13/11/2025, theo thông tin từ trưởng thôn T, xã Đ cho biết: Tại thời điểm xác minh anh T có địa chỉ thường trú tại thôn T, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa là đúng thực tế. Hiện tại anh T đang sinh sống và làm việc trong miền N không có mặt tại địa phương nhưng thỉnh thoảng vẫn liên lạc về với gia đình. Anh T không khai báo với chính quyền địa phương nên không rõ địa chỉ cụ thể hiện nay của anh T nên địa phương không cung cấp được cho Tòa án. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của vợ chồng: Năm 2022 anh T và chị N có sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân như thế nào thì địa phương không rõ nhưng gia đình có mời Công an xã và thôn hòa giải nhưng không thành, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay.

Tại phiên toà lần hai anh T vắng mặt không có lý do. Các đương sự đều vắng mặt tại phiên toà nên Chủ toạ phiên toà công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Chủ toạ phiên toà nêu tóm tắt vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về vấn đề giải quyết xin ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về hôn nhân:

Đề nghị HĐXX chấp nhận cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung:

Vợ chồng không có con chung, hiện tại chị N cũng không có thai nghén gì, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về tài sản, công nợ:

Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa có đủ vơ sở nhận định.

  1. Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc “ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự.

    Tại thời điểm khởi kiện bị đơn có địa chỉ tại thôn T, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 của BLTTDS Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
  3. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và Anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã C, huyện H (nay là xã Đ), tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2016. Như vậy hôn nhân giữa chị N và anh T là hôn nhân hợp pháp.

    Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2019 thì sảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tình cảm vợ chồng không hòa hợp, quan điểm sống vợ chồng trái ngược nhau, gây ức chế tinh thần cho cả hai bên. Năm 2022 vợ chồng có làm đơn ly hôn sau đó suy nghĩ lại nên quay về chung sống nhưng cũng không hòa hợp. Gia đình bên nội, Công an xã và trưởng thôn cũng đã hòa giải nhưng không thành nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập các đương sự đến hòa giải nhưng anh Nguyễn Văn T đều vắng mặt không có lý do chứng tỏ anh T có ý bỏ mặc, không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm.

    Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T đã rơi vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T là phù hợp với tình trạng hôn nhân và quy định tại khoản Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

  4. Về con: Vợ chồng không có con chung, hiện tại chị N cũng không có thai nghén gì không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về tài sản và công nợ: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Thanh Hóa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 235; Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con: Chị N và anh T không có con chung không yêu cầu giải quyết
  3. Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị N đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Thanh Hóa theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001925 ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND khu vực 5;
  • - Phòng THADS khu vực 5;
  • - UBND xã Đông Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lường Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 254/2025/HN&GĐ-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 254/2025/HN&GĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger