Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 254/2025/DS-ST

Ngày: 30-6-2025

V/v tranh chấp kỷ luật sa thải.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Tâm
  2. Bà Hồ Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hải Hoài - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số số 38/2025/TLST-LĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp kỷ luật sa thải” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5567/2025/QĐXXST-LĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu T1, sinh năm 1997 ( có mặt)

Địa chỉ: B khu phố Đ, phường B, huyện T, tỉnh Bình Dương.

Đại diện ủy quyền: Ông Trịnh Hồng S, sinh năm 1996 ( có mặt)

(Văn bản ủy quyền ngày 04/02/2025)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Tuấn A – Luật sư Công ty L Cộng sự - Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H ( vắng mặt)

Bị đơn: Công ty TNHH S1.

Địa chỉ: G đường D, phường H, thành phố T.

Đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Văn V – Giám đốc ( vắng mặt)

NHẬN THẤY:

Trong đơn khởi kiện ngày 29/3/2024 và lời khai tại tòa, nguyên đơn là bà Lê Thị Thu T1 do ông Trịnh Hồng S đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Lê Thị Thu T1 có thử việc tại Công ty TNHH S1 (gọi tắt Công ty S1) từ ngày 04/7/2024 đến tháng 9/2024. Ngày 13/9/2024, bà T1 ký Hợp đồng lao động số 02/HDCTV-SEDU-LTTT với Công ty S1 với vị trí Account Senior, thời hạn 12 tháng, với mức lương 15.000.000 đồng/tháng. Thời gian làm việc 08giờ/ngày và 24 giờ/tuần vào thứ hai, thứ ba, thứ tư hàng tuần. Nhiệm vụ của bà T1 là thực hiện công việc theo đúng chức danh chuyên môn dưới sự quản lý, điều hành của Ban giám đốc; Phối hợp các bộ phận khác trong Công ty S1 để phát huy hiệu quả công việc; và những công việc khác theo nhu cầu kinh doanh hoặc theo lệnh của Ban giám đốc.

Trong quá trình làm việc, bà T1 được giao nhiệm vụ quản lý dự án, chịu trách nhiệm toàn bộ dự án từ khi nhận yêu cầu đấu thầu khách hàng, viết bài, thực hiện lên báo giá, đến khi kết thúc vận hành dự án, nghiệm thu và nhắc nhở công nợ. Do tính chất, yêu cầu công việc nên bà T1 thường xuyên phải có mặt tại địa điểm thực hiện thực tế, gặp gỡ khách hàng ngoài văn phòng. Do đó sự có mặt của bà T1 tại văn phòng không được ghi nhận thường xuyên. Bà T1 thực hiện tốt phần công việc được giao, chưa bị lập biên bản vi phạm cũng như chưa bị kỷ luật với bất kỳ hình thức nào.

Ngày 28/12/2024, bà T1 nhận được Email của Công ty thông báo với nội dung dừng Hợp đồng lao động từ ngày 30/12/2024 với lý do bà T1 không thường xuyên có mặt tại Công ty S1, vi phạm nghiêm trọng hợp đồng lao động và không biết quan tâm, tự đề xuất các phương án, phối hợp cùng Ban giám đốc. Ngày 31/12/2024, bà T1 nhận được Email mời họp giải quyết về thông báo nghỉ việc vào lúc 9 giờ ngày 10/01/2025. Tại cuộc họp không có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động cơ sở, Công ty S1 đã kết luận kỷ luật sa thải bà T1 với lý do: Bà T1 không thực hiện đúng theo quy định Hợp đồng lao động về thời gian làm việc tại văn phòng công ty; Thời gian đi làm trễ không đúng quy định, một số ngày đi lên 1-2 tiếng ra quán cà phê ngồi và đi về ( cảm thấy không cống hiến cho Công ty S1 trong công việc); Khi nhận được dự án, không thường xuyên lên Công ty S1 để trao đổi với bộ phận giám đốc để giám đốc theo dõi nắm về chương trình, không bám sát, phải có sự nhắc nhở của Giám đốc. Ngày 10/01/2025, Công ty S1 đã ra quyết định kỷ luật sa thải số 01/QĐKL/EDU kỷ luật sa thải bà T1. Việc Công ty S1 kỷ luật sa thải bà T1 là trái quy định pháp luật, cụ thể:

  • Công ty S1 không chứng minh được hành vi vi phạm cuả bà T1 theo quy định đểm a Khoản 1 Điều 122 Bộ Luật Lao động;
  • Hợp đồng lao động không có thỏa thuận về nội dung kỷ luật lao động; Công ty S1 không có nội quy lao động bằng văn bản, nếu có thì bà T1 không được Công ty S1 phổ biến, là trái với quy định Điều 69 Nghị định 145/2020/NĐ-CP;
  • Cuộc họp xem xét kỷ luật lao động không có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động; tự ý áp đặt tiến hành họp mà không trao đổi thỏa thuận với bà T1 về thời gian, địa điểm họp là vi phạm quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Ngày 09/4/2025, Công ty có Quyết định hủy bỏ Quyết định xử lý kỷ luật sa thải số 0904/2025/QĐ và Quyết định nhận người lao động trở lại làm việc số 09/2025/QĐ nhận bà T1 trở lại làm việc. Bà T1 từ chối trở lại làm việc tại Công ty S1. Bà T1 có đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 18/4/2025 với nội dung: Buộc Công ty TNHH S1 trả cho bà T1 tiền lương trong những ngày không được làm việc tạm tính từ ngày 10/01/2025 đến ngày 15/4/2025 là 45.000.000 đồng; bồi thường 02 tháng tiền lương do xử lý kỷ luật sa thải trái pháp luật với số tiền 30.000.000 đồng và đóng đầy đủ các khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà T1 trong thời gian bị sa thải trái pháp luật. Bà T1 rút yêu cầu buộc Công ty TNHH S1 nhận trở lại làm việc.

Bị đơn Công ty TNHH S1 trình bày: Theo Hợp đồng lao động 02/HĐCTV-SEDU-LTTT ngày 13/9/2024, bà Lê Thị Thu T1 làm việc tại Công ty S1 với chức danh Account Senior. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T1 không tuân thủ đúng trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện quy định giờ giấc tại văn phòng. Bà T1 chỉ lên Công ty S1 ngày/tháng. Ngày lên văn phòng thì chỉ có 2-3 tiếng/ngày, trong khi quy định làm việc 08 giờ mỗi ngày. Ngày 17/12/2024 Công ty S1 có gởi email điều động bà T1 lên làm việc từ thứ 2 đến thứ 6 nhưng bà T1 có ngày lên, có ngày không, ngày lên thì trễ giờ quy định. Ngày bà T1 không lên Công ty cũng không xin phép, không báo lý do. Ngoài ra bà T1 thiếu trách nhiệm trong đội nhóm, làm việc thiếu đóng góp với doanh nghiệp. Công ty S1 thấy bà T1 không thực hiện theo hợp đồng lao động nên quyết định sa thải nhân sự.

Do Công ty S1 mới thành lập, thủ tục xử lý nhân sự có sai sót, nên ngày 09/4/2025 Công ty có Quyết định hủy bỏ Quyết định xử lý kỷ luật sa thải số 0904/2025/QĐ và ra Quyết định nhận người lao động trở lại làm việc số 09/2025/QĐ nhận bà T1 trở lại làm việc.

Về yêu cầu của bà T1, Công ty S1 sẽ đóng bảo hiểm xã hội cho bà T1 từ tháng 01/2025 đến tháng 4/2025 theo mức lương cơ bản 5.100.000 đồng/tháng. Trường hợp bà T1 trở lại làm việc, Công ty S1 thanh toán lương cơ bản 5.100.000 đồng/tháng x 3 tháng = 15.300.000 đồng cho bà T1. Trường hợp bà T1 không đồng ý trở lại làm việc, Công ty S1 sẽ bồi thường cho bà T1 15.000.000 đồng.

Tại phiên tòa:

  • Nguyên đơn và đại diện ủy quyền nguyên đơn yêu cầu buộc Công ty S1 trả lương cho những ngày không được làm việc từ ngày 10/01/2025 đến ngày tòa án xét xử ngày 30/6/2025 là 85.984.615 đồng; bồi thường 02 tháng tiền lương số tiền 30.000.000 đồng; Rút yêu cầu buộc Công ty S1 đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 01/2025 đến tháng 4/2025; Buộc Công ty S1, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà T1 tháng 5/2025 và tháng 6/2025.
  • Đại diện bị đơn vắng mặt.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo qui định của pháp luật. Thời hạn chuẩn bị xét xử từ ngày thụ lý vụ án đến ngày đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự, đại diện ủy quyền đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, văn bản ủy quyền hợp lệ.
  • Về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu nguyên đơn. Đình chỉ yêu cầu nhận trở lại làm việc và yêu cầu đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 1/2025 đến tháng 4/2025. Buộc Công ty S1 trả lương cho bà T1 từ ngày 10/01/2025 đến ngày 14/4/2025; Buộc Công ty S1 bồi thường 2 tháng tiền lương; Bác yêu cầu buộc Công ty S1 trả lương từ ngày 15/4/2025 đến ngày 30/6/2025; Bác yêu cầu buộc công ty S1 đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tháng 5/2025 và tháng 6/2025. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị Thu T1 kiện yêu cầu hủy Quyết định sa thải nên đây là vụ án tranh chấp kỷ luật sa thải theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn Công ty TNHH S1 có trụ sở tại thành phố T nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Công ty TNHH S1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung, xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Căn cứ Hợp đồng lao động ngày 13/9/2024 giữa bà Lê Thị Thu T1 với Công ty TNHH S1 có cơ sở xác định: Bà T1 làm việc cho Công ty S1 với chức danh chuyên môn Account Senior, thời hạn 12 tháng, thời gian làm việc 08 giờ/ngày và 24giờ/ tuần vào thứ hai, thứ ba, thứ tư hàng tuần, thu nhập 15.000.000 đồng/tháng, gồm: lương cơ bản 5.100.000 đồng/tháng, hỗ trợ cơm trưa 1.900.000 đồng/tháng, hỗ trợ xăng xe 2.000.000 đồng, hỗ trợ tiền điện thoại 1.000.000 đồng, phụ cấp nhà ở 3.000.000 đồng, phụ cấp trách nhiệm 2.000.000 đồng, thưởng các ngày lễ... dự kiến 200.000 đồng.

Theo Biên bản họp xử lý sa thải nhân viên ngày 10/01/2025 của Công ty S1 thể hiện sự có mặt của ông Nguyễn Văn V - Giám đốc, ông Nguyễn Viết T2, bà Lê Thị Thu T1, không có mặt của đại diện Liên đoàn lao động thành phố T đã quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với bà T1.

Ngày 10/01/2024 ( đúng là 2025), Công ty S1 ban hành Quyết định xử lý kỷ luật lao động số 01/QĐKL/EDU sa thải bà Lê Thị Thu T1 với lý do bà T1 có sai phạm sau: Thực hiện sau khi ký hợp đồng lao động chính thức không thực hiện lên công ty Đ theo hợp đồng lao động, một số ngày nghỉ không thông báo trước về phía công ty. Phía công ty đã nhắc nhở qua tin nhắn zalo và hỗ trợ thanh toán lương đầy đủ cho nhân viên. Ngày 17/12/2024, phía công ty có gửi mail yêu cầu đi làm bổ sung các ngày trong tuần vẫn không thực hiện đi đúng giờ làm việc theo quy định công ty. Không chủ động trao đổi và nêu ý kiến trong quá trình công ty phát triển, không thực phối hợp với bộ phận giám đốc liên tục trong thời gian làm việc.

[3.2] Về trình tự thủ tục xử lý kỷ luật:

Theo quy định khoản 1 Điều 122 Bộ luật Lao động năm 2019 về việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:

“a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;

b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là thành viên;

c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật;”

Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định 145/2020/ND-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, người sử dụng lao động tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động như sau:

“a) ...;

b) Khi nhận được thông báo của người sử dụng lao động, các thành phần phải tham dự họp quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 122 của Bộ luật Lao động phải xác nhận tham dự cuộc họp với người sử dụng lao động. Trường hợp một trong các thành phần phải tham dự không thể tham dự họp theo thời gian, địa điểm đã thông báo thì người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận việc thay đổi thời gian, địa điểm họp; trường hợp hai bên không thỏa thuận được thì người sử dụng lao động quyết định thời gian, địa điểm họp;

c) Người sử dụng lao động tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động theo thời gian, địa điểm đã thông báo quy định tại điểm a, điểm b khoản này. Trường hợp một trong các thành phần phải tham dự họp quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 122 của Bộ luật Lao động không xác nhận tham dự cuộc họp hoặc vắng mặt thì người sử dụng lao động vẫn tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động.”

Xét tại Biên bản họp xử lý kỷ luật lao động đối với bà T1 của Công ty S1 ngày 10/01/2025 không có sự tham dự của đại diện tổ chức người lao động nhưng Công ty S1 không thỏa thuận thay đổi thời gian, địa điểm họp với người lao động mà vẫn tiến hành họp xét kỷ luật là không đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 70 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020.

[3.3] Về căn cứ xử lý kỷ luật: Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:

“1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;

2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;

4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.”

Xét Công ty S1 nêu ra các sai phạm của bà T1 nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh sai phạm của người lao động như lập biên bản việc vi phạm của bà T1. Ngoài ra, các hành vi vi phạm (nếu có) của bà T1 như trình bày của Công ty S1 cũng không thuộc trường hợp được áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải.

Từ phân tích trên, có cơ sở xác định Quyết định xử lý kỷ luật lao động số 01/QĐKL/EDU sa thải bà Lê Thị Thu T1 ngày 10/01/2024 (đúng là 10/01/2025) của Công ty TNHH S1 là trái pháp luật.

[3.4] Hậu quả xử lý kỷ luật lao động trái pháp luật

Theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: Nhận người lao động trở lại làm việc, bồi thường 02 tháng tiền lương, trả tiền lương và đóng đầy đủ các khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian người lao động không được đi làm. Xét việc xử lý kỷ luật sa thải trái pháp luật của Công ty S1 đối với bà T1 cũng là một hình thức như đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, do đó Công ty S1 phải có nghĩa vụ tại Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019 nêu trên.

Tại mục 3.1.2 Điều 3 Hợp đồng lao động ngày 13/9/2024 giữa bà T1 với Công ty S1 ghi “ Thu nhập của người lao động 15.000.000 đồng/tháng”. Như vậy, trong trường hợp của bà T1 thì mức lương làm căn cứ bồi thường là 15.000.000 đồng/tháng.

Ngày 15/4/2025, Công ty S1 ban hành Quyết định số 0904/2025/QĐ về việc hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật sa thải bà T1 và Quyết định số 09/2025/QĐ nhận người lao động là bà T1 trở lại làm việc từ ngày 15/4/2025. Bà T1 từ chối trở lại làm việc cho Công ty S1 và có đơn rút yêu cầu buộc Công ty S1 yêu cầu nhận bà trở lại làm việc là hoàn toàn tự nguyên nên nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

Do Công ty S1 sa thải bà T1 trái pháp luật nên Công ty S1 phải bồi thường cho bà T1 các khoản sau:

  • Bồi thường 02 tháng tiền lương: 15.000.000 đồng/tháng x 2 tháng = 30.000.000 đồng.
  • Trả tiền lương cho những ngày bà T1 không được đi làm từ ngày 10/01/2025 đến ngày 14/4/2025 là: [ 15.000.000 đồng/tháng x 3 tháng + 03 ngày ( do ngày 13/4/2025 là ngày chủ nhật) x (15.000.000 đồng: 26 ngày) ]= 46.730.769 đồng.

Đối với yêu cầu đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 01/2025 đến tháng 4/2025: Bà T1 xác định Công ty S1 đã đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà đến tháng 4/2025 nên tại phiên tòa bà T1 rút yêu cầu. Xét bà T1 rút yêu cầu buộc Công ty S1 đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 01/2025 đến tháng 4/2025 là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của bà T1.

[4]. Đối với yêu cầu buộc Công ty S1 trả lương từ ngày 15/4/2025 đến ngày 30/6/2025, xét thấy: Ngày 15/4/2025, Công ty S1 ban hành Quyết định số 09/2025/QĐ nhận người lao động là bà T1 trở lại làm việc từ ngày 15/4/2025, tuy nhiên bà T1 từ chối trở lại làm việc. Như vậy Hợp đồng lao động giữa bà T1 và Công ty S1 chấm dứt từ ngày 15/4/2025 nên việc bà T1 yêu cầu Công ty S1 trả lương cho những ngày không được làm việc từ ngày 15/4/2025 đến ngày 30/6/2025 với số tiền 39.253.846 đồng là không có cơ sở chấp nhận.

[5] Đối với yêu cầu buộc Công ty S1 đóng đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tháng 5/2025 và tháng 6/2025, xét thấy giữa bà T1 và Công ty S1 không còn quan hệ lao động từ ngày 15/4/2025, bà T1 không thực tế làm việc cho Công ty S1 thời điểm tháng 5/2025 và tháng 6/2025 nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của bà T1.

Từ các nhận định trên, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu của bà T1 về việc buộc Công ty S1 bồi thường 02 tháng tiền lương và tiền lương những ngày không được đi làm với tổng cộng số tiền 76.730.769 đồng.

[6]. Án phí: Công ty TNHH S1 phải nộp án phí là (76.730.769 đồng x 3%) = 2.301.923 đồng tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bà Lê Thị Thu T1 được miễn án phí theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy phát biểu của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu án phí là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng khoản 3 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 131, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Điều 41, Điều 122 Bộ luật Lao động năm 2019;
  • Áp dụng Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động;
  • Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.
    1. Buộc Công ty TNHH S1 có trách nhiệm trả tiền lương từ ngày 10/01/2025 đến ngày 14/4/2025 là 46.730.769 đồng và bồi thường cho bà Lê Thị Thu T1 02 tháng tiền lương là 30.000.000 đồng do sa thải trái pháp luật ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Tổng cộng 76.730.769 đồng (Bảy mươi sáu triệu bảy trăm ba mươi ngàn bảy trăm sáu mươi chín đồng).
    2. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    3. Đình chỉ xét xử yêu cầu của bà Lê Thị Thu T1 buộc Công ty TNHH S1 nhận bà Lê Thị Thu T1 trở lại làm việc.
    4. Đình chỉ xét xử yêu cầu của bà Lê Thị Thu T1 buộc Công ty TNHH S1 đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 01/2025 đến tháng 4/2025.
    5. Bác yêu cầu của bà Lê Thị Thu T1 buộc Công ty TNHH S1 trả tiền lương từ ngày 15/4/2025 đến ngày 30/6/2025 với số tiền 39.253.846 đồng.
    6. Bác yêu cầu của bà Lê Thị Thu T1 buộc Công ty TNHH S1 đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp tháng 5/2025 và tháng 6/2025.
  2. Án phí: Công ty TNHH S1 phải nộp án phí 2.301.923 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  3. Bà Lê Thị Thu T1 được miễn án phí theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • TAND TP.HCM;
  • Viện KSND thành phố Thủ Đức;
  • Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • Các đương sự;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 254/2025/DS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp kỷ luật sa thải

  • Số bản án: 254/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kỷ luật sa thải
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trang yêu cầu tuyến bố QĐ sa thải trái pháp luật và yêu cầu bồi thường.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger