|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 254/2025/DS-PT
Ngày: 06 - 6- 2025
V/v: “tranh chấp tài sản chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.
- Các Thẩm phán: ông Trần Tuấn Vũ; bà Phạm Thị Hồng Vân.
Thư ký phiên tòa: ông Ngô Tấn Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
bà Huỳnh Thị Mộng Thuý - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2025/TLPT-DS, ngày 13 tháng 5 năm 2025, về “tranh chấp tài sản chung”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2025/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 199/2025/QĐPT-DS ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Phạm Thị M, sinh năm 1960, địa chỉ: Ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn: bà Huỳnh Kim N, sinh năm 1978 và ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: bà Phạm Thị M – Nguyên đơn.
Địa chỉ: Số G, Nguyễn Hữu T, khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thành S, chức vụ: Chi cục trưởng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 05/6/2024 và quá trình giải quyết vụ án bà Phạm Thị M (Nguyên đơn) trình bày:
Bà và bà Huỳnh Kim N là mẹ con ruột, còn ông Nguyễn Thành C là con rễ (chồng của bà N). Trước đây, thửa đất 184/239 m², tờ bản đồ số 41, tại ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh do mẹ bà là Vũ Thị V (đã chết năm 2022) đứng tên . Năm 2015, bà V cho bà một phần diện tích 120 m² (đo đạc thực tế diện tích là 119, 6 m²) thuộc một phần thửa 184 và bán cho vợ chồng bà N, ông C một phần diện tích 120 m² của thửa 184 với giá 60.000.000 đồng. Do đất không đủ diện tích tách thửa nên bà, bà V và vợ chồng bà N thỏa thuận giao vợ chồng bà N đứng tên toàn bộ thửa đất 184/239 m² và lập giấy tay tiêu đề “Giấy bán cho tặng đất” đề ngày 14/02/2015, mục đích chỉ cất nhà ở, không được bán, có bà, bà V và vợ chồng bà N ký tên. Ngoài ra, có sự chứng kiến của các anh chị em bà (gồm ông Phạm Văn D, bà Phạm Thị S1, bà Phạm Thị H và bà Phạm Thị T1) cùng kí tên. Sau đó, vợ chồng bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ). Tuy nhiên, vợ chồng bà N kinh doanh thua lỗ, nợ tiền nhiều người nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện G ra quyết định cưỡng chế đối với toàn bộ quyền và tài sản của thửa đất số 184/239 m², tờ bản đồ số 41, tại ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh nên bà mới biết.
Nay bà khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà N giao trả cho bà phần đất diện tích 119,6 m², thuộc thửa đất 184, tờ bản đồ số 41, tại ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh cho bà sử dụng, không tranh chấp tài sản trên đất. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.
Bị đơn - bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Thành C trình bày:
Thống nhất lời trình bày của bà M, thửa 184/239 m², tờ bản đồ số 41, tại ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh là sở hữu chung của bà M và vợ chồng bà, trong đó: bà M sở hữu ½ diện tích. Do vợ chồng bà nợ tiền nhiều người nên bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu ra Quyết định cưỡng chế để thi hành đối với toàn bộ thửa đất số 184.
Nay bà M khởi kiện đòi lại phần diện tích 119,6 m² của thửa đất số 184, tờ bản đồ số 41, tại ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh thì vợ chồng ông bà đồng ý trả lại cho bà M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Thành S Đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu trình bày:
Ngày 19/5/2024, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu ra Quyết định Thi hành án số 301/QĐ-CCTHADS về việc yêu cầu ông Nguyễn Thành C và bà Huỳnh Kim N phải thi hành Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/ST-DS ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu; trả cho người được thi hành án là bà Lê Huyền T2 số tiền 1.020.000.000 đồng. Qua xác minh, ông C và bà N đang sử dụng phần đất có diện tích 239 m², thửa đất số 184, tờ bản đồ số 41, tại ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Chi cục Thi hành án dân sự đã ra quyết định về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 48/QĐ-CCTHA ngày 24/7/2024 đối với thửa đất số 184. Sau đó, Chi cục Thi hành có nhận thông báo thụ lý vụ án số 650/2024/TLST-DS ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu. Hiện tại, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu đang hoãn việc thi hành án đối với bà N và ông C, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu không có thông báo yêu cầu những người có liên quan khởi kiện xác định sở hữu chung.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2025/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2025, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định.
Căn cứ vào các Điều 117, 457, 459 của Bộ luật dân sự; Điều 168, 188 của Luật đất đai năm 2013; Điều 147, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M đối với bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Thành C về việc “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án” phần đất có diện tích thực tế là 119,6 m², thuộc thửa đất 184, tờ bản đồ số 41, tại ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 133041 số vào sổ cấp GCN: CS02675 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16/9/2016 cho bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Thành C đứng tên.
- Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 29/4/2025, bà M kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, lý do đất này là quyền sử dụng chung giữa bà và bà N, ông C.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà M trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Bà N trình bày: chấp nhận kháng cáo của bà M.
* Phần tranh luận:
- Bà M trình bày: yêu cầu bà N trả cho bà 119,6 m² trong một phần thửa 184, tờ bản đồ số 41, tại ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Bà N trình bày: đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà M.
* Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bà M; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm, điều chỉnh lại quan hệ tranh chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện Kiểm sát, xét kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bà Phạm Thị M kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp: sau khi có quyết định cưỡng chế thửa đất số 184 do vợ chồng bà N, ông C đứng tên chủ sử dụng để thi hành án thì bà Phạm Thị M (mẹ bà Huỳnh Kim N) khởi kiện tranh chấp diện tích 119,6 m² trong một phần thửa 184, bà M cho rằng thửa đất này thuộc sở hữu, sử dụng chung với bà N. Cơ quan thi hành án không có thông báo cho bà M phải khởi kiện để xác định phần quyền sở hữu trong khối tài sản chung theo quy định tại Điều 74, 75 của Luật Thi hành dân sự nhưng cấp sơ thẩm lại xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp tài sản liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án” là không đúng. Do đó, cấp phúc thẩm điều chỉnh lại quan hệ tranh chấp là “tài sản thuộc sở hữu chung” cho phù hợp. Không cần phải huỷ án sơ thẩm, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[2] Về nội dung: bà M khởi kiện bà N, ông C yêu cầu trả diện tích đất 119,6 m² trong một phần thửa 184 tờ bản đồ số 41, tại ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, bà M cho rằng thửa 184 bà là người đồng sở hữu, sử dụng với bà N. Bà N, ông C đồng ý trả đất theo yêu cầu của bà M.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà M:
[3.1] Diện tích đất 239 m², thửa số 184, nêu trên có nguồn gốc của bà Vũ Thị V (mẹ bà M), ban đầu đất này thửa 105 tờ bản đồ số 20. Ngày 05/9/2014 bà V chuyển bản đồ lưới thành thửa 92 tờ bản đồ số 41. Ngày 08/6/2014, thửa 92 tách thành thửa 184. Ngày 11/6/2016, bà V đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà Huỳnh Kim N, ông Nguyễn Thành C toàn bộ diện tích 239 m², giá chuyển nhượng 15.000.000 đồng, hợp đồng được UBND xã B chứng thực. Ngày 27/6/2016, bà N, ông C được cấp GCNQSDĐ. Bà M cho rằng đất bà N, ông C đứng tên bà V đã tặng cho bà diện tích 119,6 m²/239 m². Chứng cứ bà M xuất trình là “Giấy bán cho tặng đất” đề ngày 14/02/2015 nội dung bà V tặng cho bà 120 m².
[3.2] Qua xem xét chứng cứ bà M xuất trình thấy rằng, văn bản ngày 14/02/2015 không được công chứng hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực, “Giấy bán cho tặng đất” đề ngày 14/02/2015 trong khi ngày 08/6/2016 bà V đã làm thủ tục tách thửa 92 thành thửa 184 diện tích 239 m² và đến ngày 11/6/2016 bà V lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích 239 m² thửa 184 với bà N, ông C. GCNQSDĐ do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 27/6/2016 cho bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Thành C không có tên bà M đồng sở hữu, sử dụng thửa đất 184. Từ khi vợ chồng bà N được cấp GCNQSDĐ đã xây dựng nhà cấp 4 trên toàn bộ thửa đất, bà M không có ý kiến phản đối, trong quá trình giải quyết vụ án bà M không có chứng cứ hợp lý chứng minh bà M có quyền sở hữu chung thửa đất 184 nêu trên theo quy định tại các điều 207, 208, 209 của Bộ luật Dân sự. Mặc dù tại phiên toà bà N, ông C thoả thuận đồng ý trả cho bà M diện tích 196,6 m² đất theo yêu cầu của bà M. Tuy nhiên, việc thoả thuận trên là trái pháp luật, ảnh hưởng đến điều kiện thi hành án của bà N, ông C trong việc thi hành Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/ST-DS ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M đối với bà Huỳnh Kim N, ông Nguyễn Thành C là có căn cứ. Bà M kháng cáo nhưng không có chứng cứ gì mới nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận; giữ nguyên bản án sơ thâm.
[4] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: bà M là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016...
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị M;
Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 76/2025/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào các điều 166, 207, 208, 209 của Bộ luật Dân sự; Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 147, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M đối với bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Thành C về việc “Tranh chấp tài sản chung” diện tích thực tế là 119,6 m², thuộc thửa đất 184, tờ bản đồ số 41, tại ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 133041 số vào sổ cấp GCN: CS02675 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 27/6/2016 cho bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Thành C đứng tên.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và trích lục hồ sơ: bà Nguyễn Thị M1 phải chịu số tiền 4.383.000 (bốn triệu ba trăm tám mươi ba nghìn) đồng; ghi nhận bà M1 đã nộp thanh toán xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: bà M1 được miễn.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tâm |
Bản án số 254/2025/DS-PT ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp tài sản chung
- Số bản án: 254/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tài sản chung giữa bà M với bà Ng
