TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 254/2024/HS-ST Ngày 11-12-2024 | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Thẩm phán: Ông Phạm Hữu Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Kim Dung
Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Đào Tuấn Điệp
Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 250/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo.
Bùi Quang T, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1994, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Số A Chợ H, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số A đường C, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Bùi Quang T1 và bà Đặng Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/01/2024, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Quang T: Ông Tăng Bá G - Luật sư Văn phòng L, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
- Bị hại: Chị Phạm Thị Ngọc H1, sinh năm 2003, nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 17/01/2024, chị Phạm Thị Ngọc H1, sinh năm 2003, trú tại: Thôn L, xã N, huyện A, Hải Phòng đi xe mô tô AirBlade biển kiểm soát 15C1-468.95 đến chơi tại nhà trọ của người yêu là Bùi Quang T ở số A đường C, phường Đ, quận H, Hải Phòng. Cả hai ngồi nói chuyện ở phòng khách, T nói về việc muốn kết hôn với chị H1 nhưng chị H1 không đồng ý nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, ghen tuông. Khi chị H1 đang ngồi ở ghế sofa nhìn hướng ra cửa ra vào của phòng khách thì T vào khu vực bếp lấy 01 con dao (dạng dao gọt hoa quả, dài 24,5cm, cán dao bằng nhựa dài 10,7cm, lưỡi kim loại, bản rộng 3,5cm, đầu nhọn) đứng cạnh bên tay phải của chị H1. T cầm dao tay phải, phần mũi dao hướng xuống dưới đâm 01 nhát từ trên xuống dưới vào ngực trái của chị H1. Chị H1 ngã xuống dưới nền nhà và bỏ chạy thì T cầm dao chém liên tiếp nhiều nhát vào vùng đầu, tay, vai của chị H1. Chị H1 bỏ chạy ra đến cửa phòng khách thì T dùng tay trái kẹp cổ chị H1, tay phải vẫn cầm dao đồng thời kéo chị H1 vào trước cửa phòng ngủ đè xuống nền nhà đến khi chị H1 bất tỉnh. T nghĩ chị H1 đã chết nên buông chị H1 ra và cầm dao vào nhà vệ sinh tự cứa vào cổ 02 nhát để tự sát. Chị H1 tỉnh lại thấy T đang cầm dao ở trong nhà vệ sinh nên chạy ra ngoài, trèo qua cổng, hô hoán và được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H3. Ngay sau đó Công an phường Đ, quận H, Hải Phòng nhận được tin báo của quần chúng nhân dân đến hiện trường khống chế và đưa Bùi Quang T đi sơ cứu vết thương tại Bệnh viện H3.
Cùng ngày tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ: 03 mẫu dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu), 01 con dao (dạng dao gọt hoa quả dài 24,5cm, cán dao dài 10,7cm, lưỡi kim loại, bản rộng 3,5cm, đầu nhọn) trong nhà vệ sinh, 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 15C1 - 468.95 ở ngoài sân.
Tại Kết luận giám định số 78/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 18/01/2024 của Trung tâm P kết luận: Chị Phạm Thị Ngọc H1 bị 12 vết thương rách da tại vùng đầu, vai, tay, vùng ngực trong đó 01 vết thương vai trái dài 05cm, bờ sắc gọn, đáy lóc da đến sát bờ dưới xương đòn trái đến xương sườn II bên trái đứt nhánh tĩnh mạch dưới đòn trái; 01 vết thương vùng chẩm trái kích thước 07cmx01cm; 01 vết thương thái dương đỉnh trái kích thước 03x0,1cm; 01 vết thương vùng chẩm - cổ bên phải kích thước 13cmx0,1cm; 01 vết thương bờ ngoài vú phải kích thước 4,2cmx0,1cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do 12 vết thương gây nên là 23%. Đối với các tổn thương khác chờ giám định bổ sung. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Tại Kết luận giám định bổ sung số 285/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 15/4/2024 của Trung tâm P kết luận tổn thương màng phổi trái gây tổn hại 05% sức khỏe, ngoài ra còn 01 vết thương vùng lưng và 03 vết phẫu thuật dẫn lưu. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Gồm cả Kết luận giám định số 78/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 18/01/2024) là 30%. Các thương tích trên nếu không được cấp cứu điều trị kịp thời sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng nạn nhân.
Kết luận giám định số 1177/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng K Công an thành H4 kết luận: Trên con dao thu tại hiện trường có máu của Bùi Quang T. Các dấu vết màu nâu đỏ là máu của chị Phạm Thị Ngọc H1 và máu của Bùi Quang T.
Tại Cơ quan điều tra bị can khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên phù hợp với lời khai của bị hại và kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị can Bùi Quang T đã bồi thường cho chị Phạm Thị Ngọc H1 53.000.000 đồng, chị H1 yêu cầu bị can T bồi thường tiếp 300.000.000 đồng tiền tổn thất vật chất và tiền tổn thất tinh thần.
Về vật chứng: Chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng 01 con dao (dạng dao gọt hoa quả dài 24,5cm, cán dao dài 10,7cm, lưỡi kim loại, bản rộng 3,5cm, đầu nhọn).
Đối với xe mô tô AirBlade biển kiểm soát 15C1-468.95 xác định chủ sở hữu là của chị Phạm Thị Ngọc H1 do đó Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H1.
Tại bản Cáo trạng số 253/CT-VKS-P2 ngày 20/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Bùi Quang T về tội Giết người, theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Thương tích của bị hại Phạm Thị Ngọc H1 là do một mình bị cáo gây nên. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã bồi thường cho chị H1 số tiền 53.000.000 đồng và đồng ý bồi thường tiếp 150.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với xã hội.
Bị hại chị Phạm Thị Ngọc H1 khai có nội dung như bị cáo bị cáo khai nhận tại phiên toà, về trách nhiệm dân dân sự tại phiên toà chị Phạm Thị Ngọc H1 khai đã nhận của gia đình bị cáo số tiền 53.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp 150.000.000 đồng. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội Giết người. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 57 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Quang T từ 14 năm đến 15 năm tù về tội Giết người.
Về dân sự: Công nhận sự thỏa thuận, buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 150.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo:
Luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và Điều luật truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
[2] Căn cứ lời khai của bị cáo Bùi Văn H2 tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, tại nhà trọ của Bùi Quang T ở số A đường C, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, Bùi Quang T đã dùng dao, mũi nhọn, lưỡi kim loại, dài 24,5cm, đâm, chém liên tiếp nhiều nhát vào ngực, đầu, vai, tay của chị Phạm Thị Ngọc H1 là vùng trọng yếu trên cơ thể gây tổn hại 30% sức khỏe, trong đó có vết thương thấu ngực gây tràn khí khoang màng phổi trái. Bùi Quang T tiếp tục dùng tay kẹp cổ, đè chị H1 xuống nền nhà đến khi chị H1 bất tỉnh, sau đó T cầm dao tự cứa vào cổ mình 02 nhát để tự sát thì bị phát hiện, bắt giữ. Các vết thương của chị H1 nếu không được cấp cứu kịp thời thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Như vậy hành vi của bị cáo Bùi Quang T đủ yếu tố cấu thành tội Giết người theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung:
[3] Hội đồng xét xử xét thấy giữa bị cáo và bị hại Phạm Thị Ngọc H1 không có mâu thuẫn gì với nhau, chỉ vì xuất phát từ việc bị cáo chị H1 không đồng ý kết hôn với bị cáo nên hai bên xảy ra cãi nhau, bị cáo H2 đã dùng dao, mũi nhọn, lưỡi kim loại, dài 24,5cm, đâm, chém liên tiếp nhiều nhát vào ngực, đầu, vai, tay của chị Phạm Thị Ngọc H1 gây tổn hại 30% sức khỏe, trong đó có vết thương thấu ngực gây tràn khí khoang màng phổi trái. Bùi Quang T tiếp tục dùng tay kẹp cổ, đè chị H1 xuống nền nhà đến khi chị H1 bất tỉnh. Hành vi của bị cáo T “có tính chất côn đồ”. Do vậy hành vi của bị cáo Bùi Quang T đã vi phạm điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh địa phương do vậy, cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bồi thường một phần cho bị hại, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt: Căn cứ tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét hậu quả vụ án là bị hại chị Phạm Thị N không chết chỉ bị thương tích 30% như vậy hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn và ở mức trên khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[8] Quan điểm bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có căn cứ nên chấp nhận.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Phạm Thị Ngọc H1 yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền 150.000.000 đồng, bị cáo đồng ý, Hội đồng xét xử xét thoả thuận của bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện không trái với quy định pháp luật nên chấp nhận.
[10] Về xử lý vật chứng: 01 con dao thu của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại quyền kháng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội Giết người, xử phạt Bùi Quang T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Bùi Quang T phải bồi thường cho bị hại Phạm Thị Ngọc H1 số tiền là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao (dạng dao gọt hoa quả) chiều dài tổng thể 24,5cm,cán bằng nhựa màu đen dài 10,7cm, lưỡi bằng kim loại sáng màu, bản rộng nhất 3,5cm, một lưỡi sắc, đầu nhọn có chữ KiWi-Brand.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Quang T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường trên, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 254/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội giết người
- Số bản án: 254/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 14 năm tù
