|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 254 /2024/DS-PT Ngày: 16/4/2024 V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản. |
Nội. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Ông Chu Tuấn Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 629/2023/TLPT-DS ngày 20/12/2023, về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXX-PTDS ngày 26/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 212/2024/QĐPT-HPT ngày 05/4/2024 giữa:
* Nguyên đơn: Ông Phùng Quang T, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội.
( Vắng mặt).
*Bị đơn:
- Bà Phùng Thị T1, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội.
( Có mặt).
- Chị Phùng Thị T2, sinh năm 1983
- Chị Phùng Thị L, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội.
( Có mặt ).
- Anh Phùng Văn P, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện B, thành phố H.
( Vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị T3, sinh năm 1959
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội.
( Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án vợ chồng ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 trình bày: Vợ, chồng ông T, bà T3 với bà Phùng Thị T1 cùng các con là Phùng Thị T2, Phùng Thị L, Phùng Văn P là hàng xóm cùng thôn, cùng xã. Do bà T1 cùng các con cần tiền để chi trả các khoản nợ cho xã hội đen nên đã hỏi vay vợ, chồng ông T, bà T3 các lần với số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 18/3/2020 (âm lịch) vợ, chồng ông T, bà T3 cho bà Phùng Thị T1 cùng các con là Phùng Thị T2, Phùng Thị L, Phùng Văn P vay số tiền là: 1.200.000.000₫ ( Một tỷ, hai trăm triệu đồng), hai bên chỉ thỏa thuận lãi suất bằng miệng là: 1,66%/tháng. Để đảm bảo cho khoản vay trên vợ, chồng ông T đã yêu cầu bà Phùng Thị T1 và các con là: Chị T2, anh Phùng Văn P, chị Phùng Thị Liên v và ký một “ Giấy ủy quyền đất và nhà ở”, nội dung trong giấy thể hiện vợ, chồng ông T cho bà Phùng Thị T1 cùng các con là Phùng Thị T2, Phùng Thị L, Phùng Văn P vay số tiền là: 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng), nếu bà T1 và các con không trả được số tiền trên thì ủy quyền cho vợ, chồng bà T3, ông T được quyền sử dụng đất mảnh đất diện tích 200m2 và ngôi nhà hai tầng của bà T1. Ngoài ra nội dung còn thể hiện vợ, chồng ông T cho bà T1 cùng các con là Phùng Thị T2, Phùng Thị L, Phùng Văn P thuê nhà, đất trong thời gian 02 năm, tiền thuê nhà trả hàng tháng, hết thời gian thuê hai năm không trả được thì bà T1 cùng các con phải rời khỏi ngôi nhà đó. Thời gian bắt đầu tính từ ngày 18/3/2020 ( Âm lịch) đến ngày 18/3/2022 (Âm lịch). Chị T2 là người viết: “Giấy ủy quyền đất và nhà ở”, bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P đã ký và ghi rõ họ tên bên ủy quyền.
Lần 2: Ngày 14/11/2020 vợ, chồng ông T cho chị Phùng Thị T2, anh Phùng Văn P vay số tiền 260.000.000đ, hai bên thỏa thuận lãi suất bằng miệng là: 1,66%/tháng. Số tiền này do anh P ký tên, còn chị T2 ký là người làm chứng. Số tiền gốc này chị T2 đã trả đủ tiền gốc: 260.000.000đ (Hai trăm, sáu mươi triệu đồng) cho vợ, chồng ông T, bà T3.
Lần 3: Vợ, chồng ông T không nhớ rõ ngày, tháng, năm. Vợ, chồng ông T cho chị Phùng Thị T2 vay số tiền là: 100.000.000đ, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất là 1,66%/tháng. Giấy vay nợ ghi là: “Giấy vay thế chấp máy”, trong giấy này chị T2 là người trực tiếp viết giấy, có ghi là “Giấy vay thế chấp máy”, hẹn đến ngày 25/12/2021 âm lịch thì trả số tiền là: 110.000.000đ, đồng thời chị T2 có thế chấp 50 máy may công nghiệp. Giấy này chỉ có chị Phùng Thị T2 ký tên, còn bà Phùng Thị T1 là người ký làm chứng. Số tiền này chị Phùng Thị T2 đã trả được 20.000.000đ. Hiện nay còn 80.000.000đ. Vợ, chồng ông T không yêu yều xử lý tài sản thế chấp là máy khâu.
Nay vợ, chồng ông T, bà T3 yêu cầu bà Phùng Thị T1 và các con của bà T1 là: Chị là Phùng Thị T2, Phùng Thị L, Phùng Văn P phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho vợ, chồng ông T, bà T3 số tiền gốc là: 1.280.000.000đ (Một tỷ, hai trăm, tám mươi triệu đồng). Cụ thể: Bà T1, chị T2, chị L, anh P mỗi người phải trả nợ cho vợ, chồng ông T, bà T3 số tiền gốc là: 320.000.000đ (Ba trăm, hai mươi triệu đồng).
Về lãi suất: Vợ, chồng ông T, bà T3 yêu cầu Bà T1 và các con của bà T1 là: Chị T2, chị L, anh P phải liên đới trả nợ lãi suất trên số nợ gốc: 1.280.000.000đ, với mức lãi suất là: 1,66%/tháng, thời gian tính lãi suất từ tháng 03/2023 (Âm lịch) đến ngày 22/07/2023 (Âm lịch), tức ngày 06/09/2023 dương lịch. Cụ thể: Số tiền gốc là: 1.280.000.000₫ x 1,66% x 04 tháng 21 ngày = 99.868.000đ. Ngoài ra vợ, chồng ông T, bà T3 còn yêu cầu bà T1, chị T2, chị L, anh P phải liên đới trả nợ số tiền lãi suất trên số nợ gốc 1.280.000.000đ của tháng 02/2023 âm lịch mẹ, con bà T1 chưa trả là: 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng). Tổng số tiền lãi suất vợ, chồng ông T, bà T3 yêu cầu bà T1, chị T2, chị L, anh P phải liên đới trả nợ cho vợ, chồng ông T là: 113.865.000đ. Cụ thể: Bà T1, chị T2, chị L, anh P mỗi người phải trả số tiền lãi suất cho vợ, chồng ông T, bà T3 số tiền là: 28.466.250đ (Hai mươi tám triệu, chín trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
Về tài sản thế chấp là: Diện tích đất: 200m2, trên đất có 01 ngôi nhà 02 tầng thuộc quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất của bà T1. Khi vợ, chồng ông T, bà T3 cho mẹ, con bà T1, chị T2, anh P, chị L vay số tiền gốc: 1.200.000.000đ. Ông T, bà T3 đã yêu cầu mẹ con bà T1 phải viết giấy “ Giấy ủy quyền đất và nhà ở” nhằm mục đích đảm bảo cho khoản tiền vay của vợ, chồng ông T. Giấy vay tiền, thế chấp máy khâu để đảm bảo cho khoản tiền vợ, chồng ông T cho chị T2 vay là: 110.000.000₫ (Một trăm, mười triệu đồng). Nay vợ, chồng ông T, bà T3 xác định các giấy ủy quyền đất và nhà ở, giấy vay tiền thế chấp máy khâu đều nhằm mục đích đảm bảo cho các khoản tiền vay của vợ, chồng ông T, bà T3 cho mẹ con bà T1, chị T2, chị L, anh P vay tiền. Nay vợ, chồng ông T, bà T3 xác định do trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế do đó đã yêu cầu mẹ con bà T1 viết các giấy tờ trên không đúng qui định của pháp luật. Do vậy nay vợ, chồng ông T, bà T3 không yêu cầu Tòa án xử lý tài sản thế chấp.
+ Tại bản tự khai ngày 28/06/2023 bà Phùng Thị T1 khai: Năm 2020 con gái bà T1 là chị Phùng Thị T2 cần vốn để kinh doanh nên chị T2 đã hỏi vay của ông, bà T, T3 số tiền là: 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng). Chị T2 nói với bà T1 là cần có sự đảm bảo của bà T1 và gia đình bà T1 thì vợ, chồng ông T, bà T3 mới cho vay tiền và ông, bà T, T3 yêu cầu chị T2 là con gái bà T1 viết giấy ủy quyền theo nội dung có sẵn của ông, bà T, T3 và ông, bà T, T3 nói rằng viết giấy này chỉ là hình thức để ông, bà T, T3 yên tâm cho vay tiền. Nghe ông, bà T, T3 nói vậy nên bà T1 và các con đã đồng ý ký vào giấy đó. Thực chất bà T1 và các con của bà T1 không có nhu cầu chuyển nhượng nhà, đất hay ủy quyền nhà, đất cho ông, bà T, T3. Về số tiền trả lãi hàng tháng như thế nào thì do chị T2 con gái bà T1 trả cho ông, bà Thành T4, bà T1 nghe chị T2 nói tiền lãi mỗi tháng trả 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). Số tiền vay một tỷ, hai trăm triệu đồng của ông, bà T, T4 là do chị T2 con gái bà T1 cầm để lo công việc kinh doanh, chứ bà T1 và gia đình bà T1 không được cầm để sử dụng. Bà T1 có nghe chị T2 con gái bà T1 nói suốt mấy năm nay chị T2 con gái bà T1 vẫn luôn trả tiền lãi ông, bà T, T4 đầy đủ, chỉ trả chậm một, hai tháng gần đây, do chị T2 con gái bà T1 làm ăn kinh doanh gặp phải khó khăn và đây cũng là tình hình chung của đất nước, sau dịch C.19 nhưng chị T2 con gái bà T1 cũng xin khất trả sau cho ông, bà T, T4 rất là tử tế chứ không có ý gì là trốn thoát tránh trách nhiệm trả nợ. Vì vậy bà T1 mong quí Tòa xét xử công minh vụ việc này.
+ Tại giấy khai ngày 28/06/2023 chị Phùng Thị L khai: Vào khoảng tháng 04/2020 chị T2 là chị gái chị L cần vốn để kinh doanh và duy trì phát triển công ty, nên có vay của ông, bà T, T4 số tiền là: 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng) ông, bà T, T4 yêu cầu có sự chứng kiến của gia đình chị L, và ông, bà T, T4 yêu cầu chị T2 là chị gái chị L viết giấy ủy quyền nhà đất theo nội dung có sẵn, ông, bà T, T4 đọc cho chị T2 viết. Ông, bà T, T4 cũng nói với gia đình chị L rằng viết giấy ủy quyền này chỉ là hình thức lấy căn cứ để ông, bà T, T4 cho chị T2 vay tiền.Vì nghe ông, bà T, T4 nói việc viết giấy ủy quyền này chỉ là hình thức nên gia đình chị L mới đồng ý làm theo ý của ông, bà T, T4 và ký vào giấy ủy quyền, chứ chị L và gia đình chị L không có nhu cầu ủy quyền hay chuyển nhượng nhà, đất cho ông, bà T, T4. Về số tiền vay đó là do chị T2 cầm để lo công việc kinh doanh của chị T2 chứ chị L và gia đình chị Liên hoàn t không được sử dụng số tiền vay của ông, bà T, T4. Về số tiền lãi suất hàng tháng như thế nào thì do chị T2 làm việc thỏa thuận với ông, bà T, T4. Chị L và gia đình cũng nghe chị T2 nói là tiền lãi 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) một tháng và thỉnh thoảng đôi khi chị T2 đi vắng thì có nhờ chị L mang tiền mặt trả nợ cho ông, bà T, T4 số tiền 30.000.000đ/tháng, có những tháng không trả đủ luôn một lần 30 triệu mà phải trả trả dần mỗi lần vài triệu đồng cộng lại thành 30 triệu đồng.
Chị T2 rất hợp tác và thiện chí trả tiền lãi suất cho ông, bà T, T4 trong suốt thời gian mấy năm qua. Do mấy tháng gần đây công việc kinh doanh của chị T2 gặp khó khăn do đó chị T2 chậm trả lãi suất cho cho ông, bà T, Toán 1, 2 tháng do vậy vợ, chồng bà T4, ông T đã đến nhà chị T2 đòi nợ nói năng thiếu văn hóa, gây áp lực cho chị T2 và công nhân đang làm việc cho chị T2 làm ảnh hưởng đến việc sản xuất, kinh doanh của chị T2.
* Tại giấy tự khai ngày 11/07/2023 anh Phùng Văn P khai: Năm 2020 do chị T2 là chị gái anh P cần tiền để kinh doanh nên đã hỏi vay của ông, bà T, T4 số tiền là: 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng). Chị T2 nói là cần có sự bảo đảm của anh P và gia đình anh P thì ông, bà T, T4 mới đồng ý cho vay tiền và ông, bà T, T4 yêu cầu chị T2 viết giấy ủy quyền theo nội dung có sẵn của ông, bà T, T4 và ông, bà T, T4 nói rằng viết giấy ủy quyền này chỉ là hình thức để ông, bà T, T4 yên tâm cho vay tiền. Nghe ông, bà T, T4 nói vậy nên anh P và gia đình anh P đã đồng ý ký vào tờ giấy ủy quyền đó, chứ anh P cũng như gia đình anh P không có nhu cầu chuyển nhượng hay ủy quyền nhà, đất cho ông, bà T, T4. Còn về số tiền phải trả lãi suất hàng tháng như thế nào thì thì chị T2 trả cho ông, bà T, T4, anh P nghe chị T2 nói là tiền lãi hàng tháng phải trả cho ông, bà T, T4 là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). Có thời gian khoảng vài tháng năm 2021 – 2022 do chị T2 chậm trả lãi suất cho ông, bà T, T4 và ông, bà yêu cầu anh P hỗ trợ bằng cách đưa cho ông, bà T5, T4 cầm, giữ thẻ lương của anh P (Thẻ ATM) để ông, bà T, T4 trừ nợ khi anh P có lương. Ông, bà T, T4 giữ được khoảng chín hay mười tháng gì đó anh P cũng không nhớ rõ thì ông, bà T, T4 trả lại thẻ cho anh P. Về vấn đề này thì chị T2 mới là người nắm rõ thông tin và số tiền vay 1,2 tỷ đồng đó là chị T2 cầm để lo công việc của chị T2 chứ anh P và gia đình anh P cũng không được cầm, anh P nghe chị T2 bảo suốt mấy năm nay chị T2 vẫn luôn trả tiền lãi suất cho ông, bà T, T4 đầy đủ, chỉ chậm trả một, hai tháng gần đây do làm ăn kinh doanh gặp khó khăn do dịch covitd.19 và cũng do tình hình kinh tế suy thoải chung của cả nước vì C.19 và chị T2 cung xin khất trả do ông, bà T, Toán tử tế chứ không có ý định là trốn tránh trách nhiệm với ông, bà T, T4. Anh P đề nghị Tòa án nhân dân Huyện Ba vì giải quyết, xét xử vụ án công minh.
* Tại giấy tự khai ngày 27/06/2023 chị Phùng Thị T2 trình bày: Chị có quan hệ với vợ chồng ông T, bà T4 là người cùng thôn T, xã Đ. Chị thừa nhận các lần chị vay tiền của vợ chồng ông T, bà T4 như sau:
Lần 1: Ngày 18/3/2020 (âm lịch) chị vay của vợ chồng ông T, bà T4 số tiền gốc là: 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng), theo giấy của ông T xuất trình cho Tòa án là đúng. Lãi suất chị T2 và vợ chồng ông T thỏa thuận bằng miệng là: 30.000.000đ/ tháng trên số nợ gốc 1.200.000.000đ ( Một tỷ hai trăm triệu đồng). Chị đã trả lãi suất cho vợ chồng ông T, bà T4 từ tháng 4/2020 âm lịch đến hết tháng 02/2023 (nhuận âm lịch của năm 2023). Trong giấy vay nợ số tiền gốc trên của vợ chồng ông T, bà T4 thì có chữ ký bên vay gồm bà Phùng Thị T1 là mẹ chị, chị Phùng Thị L là em gái, anh Phùng Văn P là em trai chị và chị là Phùng Thị T2. Nay chị T2 xác định khoản nợ này gia đình chị còn nợ của vợ chồng ông T số tiền gốc là: 1.200.000.000đ( Một tỷ hai trăm triệu đồng).
Lần 2: Chị có vay ông T, bà T4 số tiền gốc là: 100.000.000đ (Theo giấy của ông T xuất trình cho Tòa án là đúng) với lãi suất thỏa thuận miệng ban đầu là 3.000.000đ/tháng. Khoản nợ này chị đã trả được 20.000.000đ tiền gốc. Về lãi suất chị đã trả đến thời gian nào chị sẽ xem lại, chị sẽ xuất trình cho Tòa án sau, chị sẽ xuất trình thời hạn chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày hôm nay 11/7/2023. Nay chị xác định khoản nợ này chị còn nợ vợ chồng ông T số tiền gốc là: 80.000.000đ ( Tám mươi triệu đồng).
Lần 3: Vào ngày 14/11/2020 anh Phùng Văn P là em trai ruột chị có vay tiền của ông T, bà T4 số tiền gốc là: 260.000.000đ có chữ ký của người viết, ký tên là Phùng Văn P, ký ở mục người làm chứng là chị Phùng Thị T2 (Theo giấy của ông T xuất trình cho Tòa án là đúng). Khoản nợ này người viết và ký giấy vay tiền là Phùng Văn P em trai ruột của chị T2 nhưng thực chất là chị sử dụng số tiền này vào việc kinh doanh của cá nhân chị. Đối với lãi suất của khoản nợ gốc này là khoản chị vay nóng của ông T, bà T4, lãi suất bao nhiêu chị không nhớ rõ, nhưng khoảng 30%/1 năm, chị đã trả lãi cho vợ chồng ông T được một vài tháng chị không nhớ cụ thể. Từ thời điểm không tính lãi nữa thì chị và vợ chồng ông T thỏa thuận với nhau là chị trả góp mỗi tháng số tiền gốc là 10.000.000đ. Đến nay chị khẳng định chị đã trả nợ xong số nợ gốc và lãi của toàn bộ số tiền 260.000.000đ này.
Tại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành được lập ngày 11/7/2023, tại Trụ sở TAND.Huyện B thì chị Phùng Thị T2, bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P đều thống nhất thừa nhận còn nợ của vợ, chồng ông T, bà T4 tổng số nợ gốc là: 1.280.000.000đ (Một tỷ, hai trăm tám mươi triệu đồng). Về lãi suất chị T2 cùng bà T1, anh P, chị L chấp nhận trả lãi suất theo yêu cầu của vợ chồng ông T là 1,66%/tháng trên khoản nợ gốc: 1.280.000.000đ, thời điểm tính lãi từ tháng 03/2023 (Âm lịch) cho đến ngày 24/5/2023 (Âm lịch), tức ngày 11/7/2023 (Dương lịch) là: 1.280.000.000₫ x 1,66%/tháng x 03 tháng = 63.744.000₫ (Sáu mươi ba triệu, bảy trăm bốn mươi bốn nghìn đồng). Đồng thời bà T1, chị T2, chị L, anh P cùng thừa nhận và chấp nhận trả khoản tiền lãi suất của tháng 02/2023 nhuận âm lịch chị T2, bà T1, chị L, anh P chưa trả cho vợ, chồng ông T, bà T4 số tiền là: 14.000.000₫ (Mười bốn triệu đồng). Phía vợ, chồng ông T, bà T4 và bà T1, chị T2, chị L, anh P đều thống nhất chốt các khoản lãi suất trên số nợ gốc tính đến ngày 11/07/2023 (Dương lịch) tổng số tiền lãi suất còn nợ là: 77.744.000đ (Bảy mươi bảy triệu, bảy trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) và xác định tổng số tiền nợ gốc và lãi suất tính đến ngày 11/07/2023 (Dương lịch) bà T1, chị T2, chị L, anh P còn nợ vợ, chồng ông T, bà T4 số tiền là: 1.357.744.000 ( Một tỷ, ba trăm năm mươi bảy triệu, bảy trăm bốn mươi bốn nghìn). Về nghĩa vụ trả nợ: Bà T1, chị T2, chị L, anh P đều đồng ý có nghĩa vụ liên đới trả nợ số tiền gốc và tiền lãi suất cho vợ, chồng ông T, bà T4 là: 1.357.744.000 ( Một tỷ, ba trăm năm mươi bảy triệu, bảy trăm bốn mươi bốn nghìn). Cụ thể: Bà T1, chị T2, chị L, anh P mỗi người phải trả cho vợ, chồng ông T, bà T4 số tiền gốc là: 320.000.000₫ (Ba trăm, hai mươi triệu đồng), về lãi suất bà T1, chị T2, chị L, anh P mỗi người phải trả cho vợ, chồng ông T, bà T4 số tiền lãi suất là: 19.436.000đ (Mười chín triệu, bốn trăm, ba mươi sáu nghìn đồng). Tổng số tiền gốc và tiền lãi suất bà T1, chị T2, chị L, anh P mỗi người phải trả cho vợ, chồng ông T, bà T4 số tiền là: 339.436.000₫ (Ba trăm, ba mươi chín triệu, bốn trăm ba mươi sáu nghìn đồng). Kết thúc phiên hòa giải ngày 11/07/2023 bà T1, chị T2, chị L, anh P đều đã được Tòa án nhân dân Huyện Ba vì đọc thông qua biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành, chị T2 và bà T1, chị L, anh P đã yêu cầu Tòa án nhân dân Huyện Ba vì in cho chị T2, anh P, chị L, bà T1 biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành đề mọi người tự đọc lại. Sau khi đọc lại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành bà T1, chị L, anh P đã đồng ý nội dung biên bản và ký vào hai biên bản hòa giải. Riêng chị T2 đã viết ở phần cuối hai biên bản hòa giải nội dung: “ Tôi là người sử dụng tất cả những đồng tiền trên nên tôi có trách nhiệm trả cho ông, bà, tôi về kiểm tra lại các lần trả nợ rồi sẽ chốt công nợ sau. Sau khi chốt được số công nợ trên tôi sẽ thanh toán số tiền trên cho ông, bà T – Toán”. Do chị T2 ghi ở phần cuối hai biên bản hòa giải như vậy do đó Tòa án nhân dân Huyện Ba vì đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại bản án số 77/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi nợ của vợ, chồng ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 đối với bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P.
- Về nợ gốc: Buộc bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho vợ, chồng ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 số tiền gốc là: 1.280.000.000đ (Một tỷ, hai trăm tám mươi triệu đồng). Cụ thể: Bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P phải trả nợ cho vợ, chồng ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 số tiền gốc là: 320.000.000₫ (Ba trăm hai mươi triệu đồng).
- Về lãi suất: Buộc bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P phải có nghĩa vụ trả nợ cho vợ, chồng ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 số tiền lãi suất là: 113.865.000 (Một trăm mười ba triệu, tám trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Cụ thể: Bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P phải có nghĩa vụ trả nợ cho vợ, chồng ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 số tiền lãi suất là: 28.466.250₫ (Hai mươi tám triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, vợ, chồng ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P không tự nguyện thi hành án cho vợ, chồng ông T, bà T3 thì bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định tính theo quy định tại khoản 2, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 16/9/2023 bà Phùng Thị T1, bà Phùng Thị T2, ông Phùng Văn P, chị Phùng Thị L có đơn kháng toàn bộ bản án sơ thẩm số số 77/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Phùng Thị T1, bà Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội cụ thể xác định khoản vay 80.000.000 đồng là khoản vay riêng của chị T2, nên chị T2 phải chịu trách nhiệm thanh toán khoản nợ 80.000.000 đồng cho ông T, bà T3; Đối với khoản vay 1.200.000.000 đồng thì chị T2, chị L, anh P, bà T1 phải có trách nhiệm liên đới thanh toán trả cho ông T bà T3. Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Bị đơn bà Phùng Thị T1, bà Phùng Thị T2, ông Phùng Văn P, chị Phùng Thị L làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay anh Phùng Văn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, nhưng anh P vắng mặt, do đó coi như anh P đã từ bỏ quyền kháng cáo, nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của anh P.
Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh Phùng Văn P, ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 đều vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2].Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đương sự đều xác nhận xuất phát từ quan hệ quen biết là người cùng thôn. Do chị Phùng Thị T2 kinh doanh cần vốn, nên trong khoảng thời gian từ tháng 03/2020 đến tháng 11/2020 mẹ, con bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P đã vay 03 lần tiền của vợ, chồng ông T, bà T3 với tổng số tiền là: 1.560.000.000 đồng. Sau khi vay mẹ con bà T1, T2, chị L, anh P đã trả nợ cho vợ, chồng ông T, bà T3 số tiền là: 260.000.000 đồng. Tính đến ngày 11/7/2023 Bị đơn còn nợ Nguyên đơn tổng số tiền gốc là: 1.280.000.000 đồng.
Tuy nhiên, chị T2 và chị L cho rằng tất cả các khoản tiền gốc các lần vay của vợ, chồng ông T, bà T3 đều là khoản vay riêng của chị T2 chứ bà T1, chị L, anh P không được sử dụng tiền do đó bà T1, chị L, anh P yêu cầu Tòa án không buộc bà T1, chị L, chị T2, anh P phải liên đới trách nhiệm trả nợ tiền gốc và tiền lãi suất cho vợ, chồng ông T, bà T3. Việc bà T1, chị L, anh P ký vào các giấy vay tiền và giấy ủy quyền nhà, đất là do vợ, chồng ông T, bà T3 yêu cầu bà T1, chị L, anh P phải ký vào giấy thì vợ, chồng ông T, bà T3 mới cho chị T2 vay tiền. Xét thấy tại biên bản hòa giải ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội chị T2, bà T1, chị L, anh P trình bày: “Chúng tôi Phùng Thị T1, Phùng Thị L, Phùng Văn P1 cùng với Phùng Thị T2 phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho vợ chồng ông T, bà T3 số tiền nợ gốc là 1.280.000.000 đồng ...”. Hơn nữa tại các giấy vay 1.200.000.000 đồng thì bà T1, chị L, anh P và chị T2 đều ký nhận vay tiền, đối với số tiền 80.000.000 đồng chỉ có một mình chị T2 ký nhận vay. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại buộc bà T1, chị T2, chị L, anh P đều phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ gốc với số tiền 1.280.000.000 đồng là không đúng, mà cần phải xác định khoản nợ 80.000.000 đồng là nợ riêng của chị T2, nên chị T2 phải có trách nhiện thanh toán trả cho ông T bà T3 số tiền 80.000.000 đồng. Còn số tiền 1.200.000.000 đồng thì chị T2, chị L, anh P, bà T1 phải có trách nhiệm liên đới thanh toán trả cho ông T, bà T3. Do vậy cần phải sửa án sơ thẩm buộc chị T2 phải có trách nhiệm thanh toán trả cho ông T, bà T3 số tiền nợ gốc là 80.000.000 đồng; Buộc chị T2, chị L, anh P, bà T1 phải liên đới thanh toán trả cho ông T, bà T3 số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng, cụ thể: Bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P mỗi người phải trả nợ gốc cho vợ, chồng ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 là: 300.000.000 đồng.
* Về lãi suất: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay chị T2, chị L, anh P, bà T1 cho rằng sau khi vay các chị T2 đã trả lãi suất hàng tháng cho vợ, chồng ông T, bà T3 mỗi tháng 30.000.000 đồng trên số nợ gốc 1.560.000.000 đồng mức lãi suất này là quá cao so với qui định của pháp luật, do đó chị T2, chị L yêu cầu Tòa án điều chỉnh số tiền lãi suất mà chị T2 đã trả vượt mức lãi suất theo qui định của pháp luật và trừ vào số nợ gốc mà chị T2, chị L còn nợ. Quá trình giải quyết ông T bà T3 cho rằng sau khi vay tiền của vợ chồng ông thì chị T2 đã thanh toán lãi cho ông bà từ tháng 4/2020 ( âm lịch) cho đến tháng 2/2023 ( âm lịch) với mức lãi suất là 1,66%/năm. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị T2, chị L, bà T1, anh P không xuất trình được chứng cứ để chứng minh cho việc chị T2 đã trả lãi suất cao vượt quá mức lãi suất theo qui định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của chị T2, chị L. Xét thấy tại các giấy vay nợ giữa các bên đều không thỏa thuận về lãi suất, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn với mức lãi suất là 1,66%/ tháng là không đúng với quy định của pháp luật. Do vậy, cần phải sửa án sơ thẩm về lãi suất, cụ thể chị T2 phải thanh toán trả cho ông T, bà T3 số tiền nợ lãi kể từ ngày 20/4/2023 ( tức tháng 3 âm lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 06/9/2023 là:
80.000.000 đồng x 10% /năm x 4 tháng 21 ngày = 3.090.410 đồng
Chị T2, chị L, anh P, bà T1 phải liên đới thanh toán trả cho ông T, bà T3 số tiền lãi kể từ ngày 20/4/2023 ( tức tháng 3 âm lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 06/9/2023 là:
1.200.000.000 đồng x 10% / năm x 4 tháng 21 ngày = 46.356.164 đồng.
Bà T1, chị L, chị T2, anh P mỗi người phải thanh toán trả cho ông T, bà T3 số tiền nợ lãi là: 11.589.041 đồng.
Buộc bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho vợ, chồng ông T, bà T3 số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 06/9/2023 là: 311.589.041 đồng.
Buộc chị T2 phải có trách nhiệm thanh toán trả cho ông T, bà T3 số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 06/9/2023 là: 394.679.451 đồng
Về tài sản thế chấp: Tại tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay vợ, chồng ông T, bà T3 không yêu cầu Hội đồng xét xử xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và nhà, máy khâu như trong các giấy “Giấy ủy quyền đất và nhà”, “Giấy vay thế chấp máy”. Do vậy hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận.
* Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điều 296; khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Căn cứ các Điều 116, 117, 119, 122, 123, 131, 328, 401, 407, 408 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của ông Phùng Văn P.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Quang T đối với bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P.
- + Buộc bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho vợ, chồng ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 06/9/2023 là: 1.246.356.164 đồng (Một tỷ, hai trăm bốn mươi sáu triệu, ba trăn năm mươi sáu nghìn, một trăm sáu mươi tư đồng). Trong đó nợ gốc là : 1.200.000.000 đồng; Nợ lãi là: 46.356.164 đồng. Cụ thể: Bà Phùng Thị T1, chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P mỗi người phải trả cho vợ, chồng ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 số tiền gốc và nợ lãi là: 311.589.041đồng. Trong đó nợ gốc của mỗi người là 300.000.000 đồng; Nợ lãi của mỗi người là 11.589.041đồng.
- + Buộc chị T2 phải thanh toán trả cho ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3 số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 06/9/2023 là : 83.090.410 đồng. Trong đó nợ gốc là 80.000.000 đồng; Nợ lãi là 3.090.410 đồng.
Tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi chị T2 phải thanh toán trả cho ông T bà T3 là: 394.679.451 đồng. Trong đó nợ gốc là: 380.000.000 đồng; Nợ lãi là: 14.679.451đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn xin thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
Về án phí :
+ Án phí sơ thẩm: Chị Phùng Thị L, anh Phùng Văn P mỗi người phải chịu số tiền án phí là: 15.579.452 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm bảy mươi chín nghìn, bốn trăm năm mươi hai đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
Chị Phùng Thị T2 phải chịu 19.733.972 đồng ( Mười chín triệu, bảy trăm ba mươi ba nghìn, chín trăm bảy mươi hai đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
Ông Phùng Quang T, bà Trần Thị T3,Bà Phùng Thị T1 thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
+ Án phí phúc thẩm: Hoàn trả chị Phùng Thị T2, chị Phùng Thị L, mỗi người 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm các chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0061291 và 0061289 ngày 17/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Sung công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của anh Phùng Văn P theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0061290 ngày 17/10/2023 của Chi cục thi hành án huyện Ba Vì, thành phố Hà nội
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGÔ TUYẾT BĂNG. |
Bản án số 254/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 254/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T - T1
