Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 254/2023/HS-ST

Ngày: 03-11-2023.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Dũng.

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trí Dũng, ông Lại Hữu Tâm

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 240/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Ỳn Kim S; Giới tính: Nam; Sinh năm1997, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 197 đường X, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Phụ xe; Con ông Ỳn Chí V (đã chết) và bà Trương Tuệ M; Bị cáo có vợ tên Diệc Diễn Q và có 03 người con (lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020).

Tiền án: Ngày 02/02/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 02 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2022 và nộp án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm, nộp tiền sung quỹ Nhà nước vào ngày 24/01/2022; nộp 10.000.000 đồng tiền bồi thường cho bị hại vào ngày 23/02/2022.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2023 đến nay (có mặt).

2/ Họ và tên: Nguyễn Trần K; Giới tính: Nam; Sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: 428/25/10 Tỉnh Lộ 10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Sửa xe; Con ông Nguyễn Ái M1 và bà Trần Thị T; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Mỹ D.

  • - Tiền án: Không.

  • - Tiền sự: Ngày 02/3/2023, bị Công an phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 19/QĐ-XPHC). Nguyễn Trần K đã đóng tiền phạt ngày 07/3/2023.

  • - Nhân thân:

    • + Ngày 07/11/2014, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 337/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2017, đã nộp án phí và bồi thường thiệt hại cho các bị hại.

    • + Ngày 28/9/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 112/2017/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2020; đã nộp 1.660.000 đồng tiền do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước và nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào tháng 11/2017.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2023 đến nay (có mặt).

* Bị hại: Ông Danh S1, sinh năm: 2002; Nơi cư trú: 51 đường R, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • 1/ Bà Lâm Thị H, sinh năm 1968; Nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

  • 2/ Bà Nguyễn Thị Bích T1; Nơi cư trú: B Chung cư T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 13/6/2023, Ỳn Kim S đến nhà bạn là Nguyễn Trần K tại địa chỉ 482/25/10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh chơi. Tại đây, cả hai rủ nhau đi tìm tài sản để trộm cắp lấy tiền tiêu xài. Trước khi đi, S chuẩn bị 01 cây kìm cộng lực và 01 cây đoản bỏ trong túi xách đeo trên người, còn K đem theo 01 bình xịt hơi cay. Sau đó, K điều khiển xe mô tô Exciter biển số 59C2-810.87 chở S đi qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, cả hai đến trước nhà số C đường G, ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện xe mô tô Sonic biển số 68D1-615.41 của ông Danh S1 đang dựng trước cửa nhà, không có người trong coi. Nguyễn Trần K dừng xe lại rồi đứng ngoài cảnh giới, còn Ỳn Kim S đi bộ lại gần xe mô tô biển số 68D1-615.41, lấy cây đoản trong túi xách ra cắm vào ổ công tắc điện phá khóa xe rồi cất cây đoản vào túi xách và ngồi lên xe nổ máy bỏ chạy ra đường. Lúc này, K cũng điều khiển xe mô tô biển số 59C2-810.87 chạy theo sau. Cùng lúc đó, ông Danh S1 phát hiện, tri hô và cùng quần chúng nhân dân đuổi theo. Khi S và K bỏ chạy được khoảng 100 mét thì S bị ngã xe nên bỏ lại xe mô tô biển số 68D1-615.41 rồi leo lên ngồi sau xe mô tô biển số 59C2 - 810.87 để K điều khiển bỏ chạy, được khoảng 100 mét thì cả hai bị đuổi kịp nên S vứt túi xách chứa kìm công lực và cây đoản xuống đường. Ông S1 và người dân xông đến bắt giữ thì bị K dùng bình xịt hơi cay chống trả nhưng K và S vẫn bị bắt giữ giao cho Công an xã T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để điều tra, xử lý.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 2058/KL-HĐĐGTS ngày 13/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định: Xe mô tô biển số 68D1-615.41 trị giá 44.411.900 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Ỳn K và Nguyễn Trần K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại bản cáo trạng số 236/CT-VKS ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Ỳn Kim S2Nguyễn Trần K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Ỳn Kim S2 từ 03 năm 06 tháng đến 4 năm tù.

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Trần K từ 03 năm 06 tháng đến 4 năm tù.

  • - Về vật chứng:

    • + 01 xe mô tô Sonic biển số 68D1-615.41 do bà Lâm Thị H đứng tên chủ sở hữu. Bà H đã giao xe mô tô cho con ruột là Danh S1 sử dụng làm phương tiện đi lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại xe này cho ông Danh S1 nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

    • + 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 59C2- 810.87 mà K khai là mua lại của người khác (không rõ lai lịch) nhưng không có giấy tờ. Qua giám định xác định xe đã bị mài mất số khung, số máy, không xác định được số nguyên thủy. Đối với biển số xe 59C2-810.87, qua giám định xác định biển số này đã bị dán chồng số, biển số nguyên thủy là 59C2-819.37 và biển số này là thật. Do đó đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe mô tô (không xác định số khung số máy) và giao cơ quan thi hành án dân sự thông báo tìm chủ sở hữu biển số xe 59C2-819.37.

    • + Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 túi xách màu đen; 01 kìm cộng lực dài 30cm; 01 cây đoản bằng kim loại dài 08cm; 01 bình xịt màu đen hiệu Takedown đã qua sử dụng; 01 quần dài màu đen và 01 áo thun đen, viền màu đỏ thu giữ của Nguyễn Trần K; 01 quần thun đen dài thu giữ của Ỳn K.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Ông Danh S1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa thì có căn cứ xác định như sau: Ngày 13/6/2023 tại trước nhà số C đường G, ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Ỳn Kim S2, Nguyễn Trần K có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Sonic biển số 68D1- 615.41 của ông Danh S1 dựng phía trước nhà không người trông coi. Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B thì xe mô tô Sonic biển số 68D1-615.41 bị chiếm đoạt trị giá là 44.411.900 đồng (bốn mươi bốn triệu bốn trăm mười một nghìn chín trăm đồng) nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, các bị cáo biết việc trộm cắp tài sản hợp pháp của người khác là trái với quy định của pháp luật nhưng vì vụ lợi mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận hành vi của các bị cáo Ỳn Kim S2, Nguyễn Trần K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017). Sau khi thực hiện hành phạm tội bị hại và người dân phát hiện truy đuổi thì các bị cáo có hành vi sử dụng bình xịt hơi cay (qua giám định là công cụ hỗ trợ) chống trả, tấn công người truy đuổi nhằm mục đích để tẩu thoát nên thuộc trường hợp hành hung để tẩu thoát. Đây là tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như cáo trạng là có căn cứ và phù hợp pháp luật. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có đồng phạm nhưng không có sự câu kết chặt chẽ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét tính chất mức độ của hành vi và vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Trong đó bị cáo Ỳn Kim S2 là người rủ rê khởi xướng việc phạm tội, chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội (ổ khóa) và là thực hành tích cực trực tiếp thực hiện hành vi lấy tài sản của bị hại. Bị cáo Nguyễn Trần K tham gia phạm tội với vai trò đồng phạm là người thực hành tích cực, chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội, sử dụng hung khí tấn công người truy đuổi, hành hung để tẩu thoát nên tính chất mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo là như nhau.

[6] Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Đối với bị cáo Ỳn Kim S2, ngày 02/02/2021 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 02 năm 06 tháng tù (theo bản án hình sự sơ thẩm số 3/2020/HS-ST), bị cáo Ỳn Kim S2 chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2022. Căn cứ Điều 70 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì tính đến lần phạm tội trong vụ án này bị cáo Ỳn Kim S2 là người bị kết án, chưa được xóa án tích nhưng phạm tội mới với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo S2 được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với bị cáo Nguyễn Trần K có 01 tiền sự bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và nhân thân rất xấu nhiều lần bị kết án phạt tù (nhưng đã xoá án tích) nên cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trần K.

[7] Về vật chứng của vụ án:

[7.1] Đối với xe mô tô Sonic biển số 68D1-615.41 bị chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ tài sản bị chiếm đoạt là tài sản hợp pháp của bị hại và đã trả lại tài sản cho bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét;

[7.2] Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 59C2- 810.87 thu giữ của Nguyễn Trần K. Cơ quan điều tra trưng cầu giám định định xác định xe đã bị mài mất số khung, số máy, không xác định được số nguyên thủy. Đối với biển số xe 59C2-810.87, qua giám định xác định biển số này đã bị dán chồng số, biển số nguyên thủy là 59C2-819.37 và biển số này là thật. Theo kết quả tra cứu xác định biển số 59C2-819.37 được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Wave do bà Nguyễn Thị Bích T1 đứng tên chủ sở hữu và theo xác minh thì bà T1 không có mặt tại nơi cư trú nên chưa làm việc được. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Trần K khai nhận xe này bị cáo mua của người khác (không rõ lai lịch), không làm giấy tờ gì và ngày 13/6/2023 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Do đó, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước đối với xe mô tô (không xác định được số khung số máy) và tịch thu tiêu huỷ biển số 59C2-810.87.

[7.3] Đối với 01 túi xách màu đen; 01 kìm cộng lực dài 30cm; 01 cây đoản bằng kim loại dài 08cm; 01 bình xịt màu đen hiệu Takedown đã qua sử dụng; 01 quần dài màu đen và 01 áo thun đen, viền màu đỏ thu giữ của Nguyễn Trần K; 01 quần thun đen dài thu giữ của Ỳn K. Tất cả các vật chứng này là công cụ phương tiện phạm tội; riêng các áo quần bị thu giữ là tài sản của các bị cáo mặc vào thời điểm phạm tội, tại phiên toà các bị cáo trình bày các tài sản là quần áo bị thu giữ không có có trị lớn và các bị cáo từ bỏ không nhận lại số quần áo này. Do đó, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu huỷ các vật chứng này.

[8] Về dân sự: tại phiên tòa bị hại ông Danh S1 vắng mặt nhưng hồ sơ thể hiện ông Danh S1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt bị cáo Ỳn Kim S2 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2023.

  • * Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần K 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2023.

  • * Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

  • * Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về vật chứng của vụ án:

  • + Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter (không xác định được số khung, số máy).

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 kìm cộng lực dài 30cm; 01 cây đoản bằng kim loại dài 8cm; 01 bình xịt màu đen hiệu Takedown đã qua sử dụng; 01 quần dài màu đen và 01 áo thun đen, viền màu đỏ; 01 quần thun đen dài và 01 biển số 59C2-810.87.

    (Tất cả vật chứng trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/9/2023 giữa công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh).

  • - Về án phí: mỗi bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;

  • - Bị cáo và đương sự, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án; Đương sự, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh.
  • - Công an H. Bình Chánh;
  • - VKSND H. Bình Chánh;
  • - THA dân sự H.Bình Chánh;
  • - PC 53- Công an TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 254/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 254/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ỳn Kim Sơn, Trần Quang Khải
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger