TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2539/2024/LÐ-ST
Ngày: 18 – 6 – 2024
V/v Tranh chấp tiền lương.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Chi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thế Hùng.
- Bà Nguyễn Thị Hoa.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc B – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 142/2023/TLST-LĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp tiền lương”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3611/2024/QĐXXST-LĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Cẩm H, sinh năm 1965.
- Bị đơn: Ông Mạch Bội H1, sinh năm 1983.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Thu T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: B khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, có mặt.
Địa chỉ: Căn hộ A, Lô A, chung cư T M, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
Địa chỉ: Căn hộ A, Lô A, chung cư T M, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 29/9/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H trình bày:
Bà Huỳnh Thị Cẩm H giúp việc gia đình cho ông Mạch Bội H1 từ ngày 20/02/2023 đến ngày 25/8/2023 theo thỏa thuận bằng lời nói, tổng cộng thời gian làm việc là 06 tháng 05 ngày. Tiền lương theo thỏa thuận là 7.000.000 đồng/tháng, tiền lương tính từ ngày 20 tháng trước đến 20 tháng sau. Mỗi tháng có 02 ngày nghỉ, nếu không nghỉ thì sẽ được thêm 500.000 đồng. Thực tế từ khi vào làm bà H không nghỉ ngày nào cho đến khi ngưng làm việc vào ngày 26/8/2023. Nguyên nhân nghỉ việc là do trước đây mẹ của ông H1 có cho phép dẫn trẻ nhỏ đến chơi với con của ông H1. Sau khi ông H1 về thấy thì có hỏi bà H tại sao đưa người tới, bà H đã giải thích nhưng ông H1 không chấp nhận. Trước đó ông H1 cũng tỏ ra nóng nảy và nhiều lần la lối. Vì vậy, bà H có đề nghị cho bà nghỉ việc. Sau đó, ông H1 đuổi bà đi, bà phải năn nỉ cho bà ở lại qua đêm. Đến sáng hôm sau ngày 26/8/2023 thì bà H nghỉ việc cho đến nay. Tiền lương mà ông H1 phải trả là 46.165.000 đồng, ông H1 đã trả 02 lần tiền lương 7.000.000 đồng và 20.000.000 đồng theo hình thức chuyển khoản, còn nợ lại 19.165.000 đồng. Sau khi ông H1 chuyển khoản số tiền 7.000.000 đồng, bà H không thắc mắc, khiếu nại gì. Nay bà H yêu cầu hoàn trả 19.165.000 đồng và tiền đi tới đi lui để thưa kiện khoảng 2.000.000 đồng, số tiền này không có giấy tờ để chứng minh. Bà H trình bày đã mất 01 tháng 02 ngày không có việc làm, nay bà H yêu cầu ông H1 phải bồi thường 250.000 đồng/ngày, tiền bồi thường là 250.000 đồng/ngày x 32 ngày = 8.000.000 đồng, khoản tiền này bà H không có tài liệu gì để chứng minh vì giúp việc nhà thì không có hợp đồng lao động hay giấy tờ gì khác để xuất trình cho Tòa án. Ngoài ra, bà H không có yêu cầu gì khác. Bà H không cam kết góp tiền du lịch 5.000.000 đồng như trình bày của phía ông H1.
Bị đơn ông Mạch Bội H1 trình bày:
Ngày bắt đầu làm việc của bà H là sai sự thật, thực tế ngày làm việc của bà H là 21/02/2023. Ngày 21/02/2023, bà H mới đến nhà ông H1. Mặc dù giữa các bên không ký kết hợp đồng nhưng ông H1 có tự ghi chép lại ngày làm việc của bà H. Bà H tự nghỉ việc từ ngày 25/8/2023. Tối ngày 25/8/2023, bà H còn ở tại nhà ông H1. Sáng 26/8/2023, bà H ra khỏi nhà ông H1. Tiền lương thực tế theo thỏa thuận là 7.000.000 đồng, không phải 7.500.000 đồng như bà H trình bày. Ông H1 xác nhận đã thanh toán 02 lần tiền lương 7.000.000 đồng và 20.000.000 đồng. Tháng đầu tiên chuyển lương cho bà H, bà H yêu cầu tháng sau đừng chuyển vào tài khoản đó nữa và nhờ ông H1 giữ hộ để Tết có thể rút một lần về quê. Theo quy định của căn hộ nơi ông H1 đang sinh sống và trước cửa ra vào có thông báo rõ: “CƯ DÂN VUI LÒNG KHÔNG ĐỂ NGƯỜI LẠ THEO VÀO THANG MÁY LÊN TẦNG” nhưng bà H vẫn sử dụng thẻ thang máy để dẫn người lạ vào thang máy và lên căn hộ khi không có sự đồng ý của ông H1. Lời nói của bà H rất thiếu thành thật, bà đã khai rằng bà chỉ dẫn và giữ 1 bé vào căn hộ của ông H1, nhưng theo tra cứu hệ thống camera của căn hộ, Ban Quản lý toà nhà đã cho ông H1 xem đoạn clip bà dẫn 1 lúc 2 bé (chưa bao gồm bé nhà ông H1) lên đến tận căn hộ của ông H1 khi chưa có sự đồng ý và ông H1 cũng không có mặt tại thời điểm đó. Theo lời khai của bà trong đơn khởi kiện, bà tự chủ động nghỉ việc và không bàn giao, cũng không cho ông H1 có thời gian để tuyển người thay thế, điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến công việc, sinh hoạt của vợ chồng ông H1, đặc biệt là bé trai nhà ông H1 phải tạm ngưng việc học đàn, việc đi học bơi và các hoạt động năng khiếu khác. Học phí học bơi là 3.000.000 đồng cho 10 buổi, ông H1 đã thanh toán 1.500.000 đồng và mới học 2 buổi, thiệt hại là 900.000 đồng. Học phí học đàn, đã đóng trọn khoá và ông H1 không có thống kê số buổi dở dang. Bình quân học phí là 400.000 đồng/buổi/30 phút. Ngoài ra, ông H1 đã phải thay ổ khoá cửa ra ngoài căn hộ. Việc bà H bà dẫn người lạ vào nhà đã dẫn đến việc bé trai nhà ông H1 mất 2 bộ L, mỗi bộ trị giá hơn 1.000.000 đồng, 2 cái áo khoác UniLo, mỗi áo trị giá hơn 500.000 đồng. Ông H1 xem bà H là người nhà nên hoàn toàn không để tâm đến các vật dụng gia đình nên đây chỉ là thống kê cơ bản mà gần đây ông H1 mới phát hiện. Ngoài ra, bà còn có thái độ, lời nói, hành vi rất thiếu tôn trọng, thiếu văn hoá với mẹ của ông H1 ở độ tuổi 80 và có bệnh nền là bệnh tim. Bà còn có lời nói nhục mạ, phỉ báng, cung cấp thông tin sai lệch, không đúng sự thật về vợ ông H1. Nay ông H1 yêu cầu bà H công khai xin lỗi gia đình ông H1 tại cộng đồng chung cư, yêu cầu xóa các đánh giá xấu về ông H1 và công ty, những đánh giá này do bà H tác động vì xảy ra trong cùng thời điểm. Yêu cầu trả lại tiền du lịch 11.000.000 đồng cho 03 chuyến du lịch C, Hải Phòng và đi du lịch tự túc trong 03 tuần bằng xe nhà, hai bên thỏa thuận bằng lời nói chứ không có giấy tờ chứng minh về khoản tiền du lịch. Trong thỏa thuận lao động không có thỏa thuận cho đi du lịch nhưng khi hỏi ý kiến bà H, bà H đồng ý đi và đề nghị góp 5.000.000 đồng bà H chỉ nói bằng lời, không có tài liệu chứng minh. Bồi thường học phí bơi 900.000 đồng (03 buổi). Tiền thay ổ khóa 120.000 đồng. Ông H1 không yêu cầu bồi thường chi phí học đàn. đồ chơi bị mất do không chứng minh được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Thị Thu T trình bày: Bà là vợ của ông H1, bà có cùng ý kiến với ông H1 và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ trình tự, thủ tục luật định nhưng cần lưu ý về thời hạn chuẩn bị xét xử.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H khởi kiện bị đơn ông Mạch Bội H1 về việc tranh chấp tiền lương. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Tại phiên tòa, các đương sự có mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2.2] Bị đơn ông Mạch Bội H1 không yêu cầu hoàn trả chi phí học đàn, không yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị mất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Bị đơn ông Mạch Bội H1 yêu cầu bà H cam kết không làm ảnh hưởng đối với căn hộ của ông H1, chung cư nơi ông H1 sinh sống, Hội đồng xét xử nhận định, ông H1 đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa, ông H1 chưa nộp tạm ứng án phí cho yêu cầu này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về hiệu lực của hợp đồng lao động: Tại phiên tòa, các bên đương sự đều xác nhận không ký kết hợp đồng bằng văn bản, chỉ xác lập bằng lời nói về công việc làm của bà H là giúp việc gia đình và ông H1 chi trả tiền lương, giữa các bên không thỏa thuận về thời hạn chấm dứt hợp đồng hoặc điều kiện để chấm dứt hợp đồng. Khoản 1 Điều 162 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình”. Xét thấy, hợp đồng lao động do bà H và ông H1 xác lập bằng lời nói là trái quy định tại khoản 1 Điều 162 Bộ luật Lao động. Xét về nội dung, hợp đồng thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên về công việc làm, về tiền lương, như vậy nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện. Khoản 1 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trong trường hợp hợp đồng có vi phạm về hình thức nhưng các bên đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ thì không bị vô hiệu. Thực tế, các bên đã thực hiện xong hợp đồng. Căn cứ Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 18, Điều 20, Điều 23 Bộ luật Lao động năm 2019, hợp đồng lao động giữa bà H và ông H1 có hiệu lực pháp luật, là căn cứ để phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
[3.2] Xét về căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động: Hội đồng xét xử nhận định: Tại phiên tòa, bà H thừa nhận có dẫn người lạ vào căn hộ mà không có sự đồng ý của ông H1, do bị ông H1 la mắng nên bà H có đề nghị cho bà nghỉ việc. Ông H1 cũng không phản đối đề nghị của bà mà còn đuổi bà. Do đó, có đầy đủ cơ sở để nhận định, hợp đồng lao động được chấm dứt do sự thỏa thuận của các bên theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019.
[3.3] Về xác định ngày bắt đầu làm việc của nguyên đơn: Theo trình bày của H, bà H bắt đầu làm việc từ ngày 20/02/2023, ông H1 cho rằng bà H làm việc từ ngày 21/02/2023, Hội đồng xét xử nhận định: Bà H không xuất trình tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh ngày vào làm việc từ ngày 21/02/2023. Về phía ông H1, ông H1 xuất trình bản ghi chép thể hiện ngày làm việc của bà H là ngày 21/02/2023, tuy nhiên, bản ghi chép này không được bà H xác nhận. Do cả hai bên đương sự đều không xuất trình được chứng cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử nhận định theo hướng có lợi cho nguyên đơn, chấp nhận ngày làm việc của bà H tính từ ngày 20/02/2023.
[3.4] Về xác định mức lương mà các bên thỏa thuận: Theo trình bày của H, mức lương thỏa thuận giữa các bên là 7.500.000 đồng. Ông H1 trình bày mức lương thỏa thuận là 7.000.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận định: Theo văn bản Sao kê chi tiết giao dịch từ ngày 01/3/2023 đến ngày 31/3/2023 của Ngân hàng T1, ông H1 có chuyển khoản cho bà H số tiền 7.000.000 đồng vào ngày 24/3/2023, phần nội dung có ghi rõ “LƯƠNG DÌ ÚT -T3/2023”. Tại phiên tòa, bà H thừa nhận sau khi ông H1 chuyển số tiền 7.000.000 đồng, bà H không thắc mắc hay khiếu nại gì. Do đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử nhận định mức lương theo thỏa thuận giữa các bên là 7.000.000 đồng.
[3.4] Về xác định ngày nghỉ việc của bà H: Theo trình bày của bà H ngày nghỉ việc là ngày 26/8/2023. Theo ông H1, bà H tự nghỉ việc từ ngày 25/8/2023 và tối ngày 25/8/2023 bà H còn ở tại nhà ông H1, đến sáng ngày 26/8/2023 bà H ra khỏi nhà ông H1. Hội đồng xét xử nhận định: Ý kiến trình bày của các bên tuy chưa hoàn toàn thống nhất nhưng qua lời thừa nhận của ông H1 thì đến sáng ngày 26/8/2023, bà H mới ra khỏi nhà ông H1. Do đó, có đủ cơ sở để nhận định, ngày 26/8/2023 là ngày bà H nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng lao động.
[3.5] Xét yêu cầu của bà H về việc buộc ông H1 chi trả khoản tiền lương còn thiếu là 19.165.000 đồng. Theo trình bày của bà H, trong thời gian làm việc tại nhà ông H1, bà H đã thực hiện tốt công việc được giao theo thỏa thuận. Theo văn bản Sao kê chi tiết giao dịch từ ngày 01/3/2023 đến ngày 31/3/2023, ông H1 chỉ mới chi trả cho bà H số tiền 7.000.000 đồng vào ngày 24/3/2023, ngày 29/9/2023, ông H1 chi trả 20.000.000 đồng. Như vậy có đầy đủ cơ sở để nhận định, ông H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lương đối với bà H. Tại phiên tòa, ông H1 thừa nhận chưa thanh toán đủ tiền lương cho bà H nhưng không xác định rõ số tiền lương còn chưa thanh toán, Hội đồng xét xử nhận định: Bà H làm việc từ ngày 20/02/2023 đến ngày 25/8/2023 với mức lương 7.000.000 đồng/tháng, tương ứng 233.333 đồng/ngày. Tiền lương ông H1 phải trả cho bà H là: 7.000.000 đồng/tháng x 06 tháng + 233.333 đồng/ngày x 06 ngày = 42.000.000 đồng + 1.399.998 đồng = 43.399.998 đồng. Ông H1 mới chi trả cho bà H 27.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử buộc ông H1 phải chi trả cho bà H số tiền lương: 16.399.998 đồng.
[3.6] Bà H yêu cầu trả tiền lương trong những ngày không được làm việc: 01 tháng 02 ngày theo mức 250.000 đồng/ngày, tiền bồi thường là 250.000 đồng/ngày x 32 ngày = 8.000.000 đồng. Xét thấy, hợp đồng chầm dứt do hai bên cùng thỏa thuận, bà H là bên đưa ra đề nghị nghỉ việc trước, ông H1 không phản đối và đồng ý cho bà H đi ra khỏi nhà ông H1 vào sáng ngày 26/8/2023. Vì vậy, không có cơ sở để buộc ông H1 chi trả tiền lương trong 01 tháng 02 ngày.
[3.7] Bà H cho rằng ông H1 vi phạm hợp đồng do đuổi việc đối với bà H nên ông H1 là bên có lỗi. Hội đồng xét xử nhận định: Tại phiên tòa, bà H thừa nhận có dẫn người lạ vào căn hộ mà không có sự đồng ý của ông H1, vì bị ông H1 chửi nên bà H có đề nghị cho bà nghỉ việc. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận ý kiến trình bày của bà H.
[3.8] Ông H1 cho rằng ông chỉ tạm giữ tiền lương của bà H do bà H nhờ giữ giúp, mặt khác, bà H phải bồi thường một số khoản tiền cho ông H1 nên ông H1 không đồng ý chi trả số tiền lương còn lại. Hội đồng xét xử nhận định, theo quy định tại Điều 127 Bộ luật Lao động, khi người lao động vi phạm kỷ luật lao động thì người sử dụng lao động không được: “Phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động”. Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động quy định: “Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp”. Như vậy, việc ông H1 giữ tiền lương của bà H sau khi đã chấm dứt hợp đồng với bà H là trái quy định tại Điều 94 Bộ luật Lao động.
[4] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn:
[4.1] Bị đơn ông Mạch Bội H1 yêu cầu bà H trả lại tiền du lịch 11.000.000 đồng cho 03 chuyến du lịch C, Hải Phòng và đi du lịch tự túc trong 03 tuần bằng xe nhà, Hội đồng xét xử nhận định: Theo ông H1 thì hai bên thỏa thuận bằng lời nói nên ông H1 không có giấy tờ chứng minh về khoản tiền du lịch. Ý kiến trình bày của ông H1 về việc bà H đề nghị góp 5.000.000 đồng không được bà H đồng ý, ông H1 không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.2] Bị đơn ông Mạch Bội H1 yêu cầu bồi thường học phí bơi: 3.000.000 đồng/10 buổi, đã học 02 buổi, chỉ mới đóng 1.500.000 đồng, nay yêu cầu bà H bồi thường 900.000 đồng (03 buổi). Hội đồng xét xử nhận định: Hợp đồng lao động chấm dứt theo thỏa thuận của các bên nên không có cơ sở để buộc bà H phải chịu trách nhiệm bồi thường số tiền 900.000 đồng.
[4.3] Bị đơn ông Mạch Bội H1 yêu cầu bà H công khai xin lỗi đối với gia đình ông H1, gỡ bỏ các đánh giá xấu đối với ông H1 tại nơi làm việc, Hội đồng xét xử nhận định: Hợp đồng lao động chấm dứt do sự thỏa thuận của các bên nên không có cơ sở để buộc bà H công khai xin lỗi đối với gia đình ông H1, gỡ bỏ các đánh giá xấu đối với ông H1 tại nơi làm việc.
[5] Các bên không yêu cầu xem xét đối với tiền lương ông H1 đã trả, không yêu cầu xem xét tiền bảo hiểm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà H không phải chịu tiền án phí. Do phải chi trả khoản tiền lương 16.399.998 đồng cho bà H nên ông H1 phải chịu số tiền án phí 820.000 đồng. Do yêu cầu của ông H1 về việc buộc bà Huỳnh Thị Cẩm H hoàn trả các khoản tiền gồm tiền du lịch 03 chuyến: 11.000.000 đồng, trả tiền học phí học đàn 900.000 đồng, tiền thay ổ khóa: 120.000 đồng không được chấp nhận nên ông H1 phải chịu tiền án phí có giá ngạch là 601.000 đồng. Do yêu cầu phản tố của ông Mạch Bội H1 về việc buộc bà Huỳnh Thị Cẩm H công khai xin lỗi đối với gia đình ông H1, gỡ bỏ các đánh giá xấu đối với gia đình ông H1 và cam kết không làm ảnh hưởng đối với căn hộ của ông H1, chung cư nơi ông H1 sinh sống không được chấp nhận nên ông H1 phải chịu tiền án phí không có giá ngạch 300.000 đồng.
[6] Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các điều Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 18, Điều 20, Điều 23 và Điều 94 Bộ luật Lao động năm 2019;
- - Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H:
- Buộc ông Mạch Bội H1 phải trả cho bà H khoản tiền lương còn thiếu 16.399.998 (mười sáu triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi tám) đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H về việc buộc ông H1 chi trả khoản tiền lương 2.765.002 (hai triệu, bảy trăm sáu mươi lăm nghìn, không trăm lẻ hai) đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H về việc buộc ông H1 chi trả khoản tiền lương trong 01 tháng 02 ngày không được làm việc là 8.000.000 (tám triệu) đồng.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Mạch Bội H1:
- Về việc buộc bà Huỳnh Thị Cẩm H hoàn trả tiền du lịch 03 chuyến là 11.000.000 (mười một triệu) đồng, hoàn trả tiền học phí học đàn là 900.000 (chín trăm nghìn) đồng, hoàn trả tiền thay ổ khóa là 120.000 (một trăm hai mươi nghìn) đồng.
- Về việc buộc bà Huỳnh Thị Cẩm H công khai xin lỗi đối với gia đình ông Mạch Bội H1 tại chung cư nơi ông H1 sinh sống, gỡ bỏ các đánh giá xấu đối với Công ty nơi ông H1 làm việc.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Việc giao nhận tiền được thực hiện dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H về việc buộc ông Hoàn t chi phí đi xe để khiếu kiện là 2.000.000 (hai triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho bên được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Ông Mạch Bội H1 phải chịu số tiền án phí có giá ngạch 1.421.000 (một triệu, bốn trăm hai mươi mốt nghìn) đồng và tiền án phí không có giá ngạch 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Sau khi trừ vào số tiền tạm ứng án phí 663.000 (sáu trăm sáu mươi ba nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026019 ngày 02/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, ông H1 phải nộp thêm số tiền án phí 1.058.000 (một triệu, không trăm năm mươi tám nghìn) đồng.
- Bà Huỳnh Thị Cẩm H không phải chịu tiền án phí.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Trúc Chi |
Bản án số 2539/2024/LÐ-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp tiền lương
- Số bản án: 2539/2024/LÐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền lương
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tiền lương giữa bà H và ông H1
