Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI BÈ

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 253/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/8/2024

V/v tranh chấp “Xin ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhịn.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Dũng

2. Ông Phạm Trung Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Công Thúy An- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 391/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 205/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: Ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Phạm Hoàng N1, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

(Chị N vắng mặt, anh N1 có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 05/7/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày:

- Chị và anh Phạm Hoàng N1 xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2020, có đăng ký kết hôn, vợ chồng sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh N1 không lo làm ăn, thường hay quậy phá gia đình, dẫn đến vợ chồng thường hay cãi nhau, vợ chồng tự cắt đứt quan hệ vào tháng 6/2024 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nay chị yêu cầu xin ly hôn anh N1.

- Về con chung: Chị và anh N1 có 01 con chung tên Phạm Gia B, sinh ngày 18/7/2021, hiện do anh chị luân phiên nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Không có nợ chung.

* Theo tờ tự khai đề ngày 26/7/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Hoàng N1 trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Cẩm N xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2020, có đăng ký kết hôn, vợ chồng sống đến khi có con chung thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn về chi phí nuôi dưỡng con chung, dẫn đến vợ chồng thường hay cãi nhau, vợ chồng tự cắt đứt quan hệ vào tháng 6/2024 đến nay. Do còn thương vợ anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh và chị N có 01 con chung tên Phạm Gia B, sinh ngày 18/7/2021.

- Về tài sản chung: Không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Không có nợ chung.

* Tại phiên tòa, chị N, anh N1 vẫn giữ yêu cầu và ý kiến như trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc hôn nhân và con chung với bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn trong vụ án có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại huyện C, tỉnh Tiền Giang, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung với bị đơn, nên xác định đây là tranh chấp xin ly hôn và nôi con chung theo quy định tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

- Chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Phạm Hoàng N1 xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 02/11/2020. Trước khi anh chị kết hôn với nhau thì anh N1 và chị N hai người điều có gia đình riêng và đã ly hôn.

Xét thấy mặc dù anh chị mới cắt đứt quan hệ từ tháng 6/2024 đến nay nhưng sau khi kết hôn về chung sống khoảng năm thì xảy ra mâu thuẫn về việc cùng đóng góp tiền để nuôi dưỡng con chung của anh chị, đồng thời anh N1 thường đến nhà nơi chị N sống để quậy, phá và có hành vi bạo hành chị N. Hơn nữa vào tháng 01/2024 chị N có đơn xin ly hôn anh đã được Tòa án thụ lý, trong quá trình giải quyết hòa giải động viên chị N rút đơn xin ly hôn để tạo điều kiện vợ chồng hàn gắn đoàn tụ, nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng hơn cụ thể sau khi Tòa án thụ lý giải quyết ngày 21/8/2024 anh N1 đến nơi chị N sinh sống quậy và đánh đập chị. Đồng thời tại phiên tòa anh có thái độ lập lờ, lúc đồng ý ly hôn, lúc không đồng ý, như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng anh chị đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ. Do vậy, X yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N và cho chị N được ly hôn anh N1 là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung:

- Chị N và anh N1 có 01 con chung tên Phạm Gia B, sinh ngày 18/7/2021, mặc dù hiện nay anh chị cùng nuôi dưỡng, nhưng thực tế ban ngày anh N1 khai do bận công việc không nuôi dưỡng được, tối mới rước về ngủ với anh, sáng đưa giao cho chị N. Mặt khác, trước khi kết hôn với chị N, anh N1 có 01 đời vợ trước có 03 người con, khi hai người ly hôn anh N1 là người nuôi dưỡng 03 con chung với người vợ trước và anh cũng đã gởi cha mẹ anh nuôi. Như vậy chị N có điều kiện nuôi con tốt hơn anh N1, nên giao con cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung: Không có tài sản chung.

[2.4]. Về nợ chung: Không có nợ chung.

[3]. Về án phí: Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội., sinh năm: 1984.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm N;

- Cho chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Phạm Hoàng N1.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị N.

- Buộc anh Pham Hoàng N1 giao con chung tên Phạm Gia B, sinh ngày 18/7/2021 cho chị Nguyễn Thị Cẩm N nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không có tài sản chung.

4. Về nợ chung: Không có nợ chung.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

- Chị Nguyễn Thị Cẩm N chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0015596 ngày 05/7/20234 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xem như chị N đã thi hành xong tiền án phí.

6. Về quyền kháng cáo:

- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Cái Bè;
  • - CCTHADS huyện Cái Bè;
  • - UBND xã An Hữu, H. Cái Bè, TG;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Nhịn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 253/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger