Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 253/2024/DS-PT

Ngày: 29-5-2024

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Phượng.

Bà Lê Thị Bích Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 và 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 178/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1988.
  • Địa chỉ: Số B, ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An. (có mặt)
  • - Bị đơn: Bà Trương Thị Kim C, sinh năm 1988. (có mặt)
  • Địa chỉ: Số B, Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Tiến S, sinh năm 1987. (có mặt)
  • Địa chỉ: Số B, Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • Người kháng cáo: Bà Trương Thị Kim C, ông Phạm Tiến S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo đơn khởi kiện ngày 22/9/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu T trình bày:

Bà có cho bà Trương Thị Kim C vay nhiều lần, mục đích vay để bà C cho người khác vay lại, cụ thể:

  • Lần 1: Vào ngày 02/6/2023, bà cho bà C vay số tiền 250.000.000 đồng, thời hạn vay 10 ngày sau trả, lãi suất vay 2%/tháng.
  • Lần 2: Vào ngày 09/6/2023, bà cho bà C vay số tiền 240.000.000 đồng, thời hạn vay 10 ngày sau trả, lãi suất vay 2%/tháng.
  • Lần 3: Vào ngày 12/6/2023, bà cho bà C vay số tiền 280.000.000 đồng, thời hạn vay 10 ngày sau trả, lãi suất vay 2%/tháng.

Tại phiên tòa, bà T xác định quá trình vay bà C đã thanh toán cho bà số tiền lãi là 105.000.000 đồng, bà đồng ý khấu trừ số tiền lãi đã nhận vào số tiền vốn vay nên hiện bà C còn nợ bà số tiền 665.000.000 đồng.

Do nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của bà C và ông Phạm Tiến S nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà C và ông S liên đới thanh toán cho bà số tiền vốn vay còn nợ là 665.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất, trả một lần khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn, bà Trương Thị Kim C trình bày: Bà có vay bà T nhiều lần với tổng số tiền 770.000.000 đồng, khi vay bà phải trả tiền lãi cho bà C mức lãi suất vay 2%/tháng với số tiền là 105.000.000 đồng, mục đích vay để bà trả tiền vay đáo hạn ngân hàng, cho người khác vay lại có thu nhập để trồng cây thanh long nhưng quá trình canh tác bị thua lỗ.

Trước yêu cầu khởi kiện của bà T buộc bà trả số tiền vốn vay còn nợ là 665.000.000 đồng thì bà đồng ý. Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bà xin được trả dần số nợ trên hàng tháng, mỗi tháng thanh toán số tiền 4.000.000 đồng, thanh toán liên tục đến khi xong nợ. Đây là nợ riêng của bà với bà T, không liên quan đến ông S, do đó bà không đồng ý yêu cầu của bà T buộc ông S cùng liên đới trả nợ.

Ông Phạm Tiến S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày tại bản tự khai ngày 22/11/2023: Trước yêu cầu khởi kiện của bà T buộc ông liên đới với bà C trả số tiền vốn vay ông không đồng ý vì thỏa thuận vay mượn giữa bà T và bà C ông không biết và ông cũng không có sử dụng tiền vay. Hiện nay ông không có tài sản để thực hiện việc trả nợ như yêu cầu của bà T nên ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu buộc liên đới của bà T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Huỳnh Thị Thu T đối với bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S.

Buộc bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Huỳnh Thị Thu T số tiền vốn vay còn nợ là 665.000.000 (sáu trăm sáu mươi lăm triệu) đồng.

3

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí: Bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 30.600.000 (ba mươi triệu sáu trăm nghìn) đồng.

Huỳnh Thị Thu T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.700.000 (mười lăm triệu bảy trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003702 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 06/3/2024 /2024, bà C, ông S kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa án sơ thẩm theo hướng ông S không phải liên đới cùng bà C trả tiền vay còn nợ cho bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S trình bày: Bà C xác nhận còn nợ bà T 665.000.000 đồng tiền vốn gốc, đây là nợ riêng của bà C; bà C vay tiền của bà T để trả nợ cho khoản vay khác và do trồng Thanh L bị thất bại, ông S không biết và khi vay tiền của bà TC không nói cho ông S biết. Ông S không biết việc bà C vay tiền của bà T và khi vay tiền của bà TC không nói cho ông S biết. Ông S thừa nhận khi bà C bỏ nhà đi ông có hứa trả nợ cho bà T nhưng hiện nay ông không có tài sản chỉ có thu nhập từ tiền lương nên không đồng ý liên đới cùng bà C trả tiền cho bà T.

Huỳnh Thị Thu T trình bày: Do nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của bà C và ông S và khi bà C bỏ trốn, ông S có nhắn tin hứa trả nợ nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà C và ông S liên đới thanh toán cho bà số tiền vốn vay còn nợ là 665.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất, trả một lần khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

  1. Tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của bị đơn bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S thực hiện đúng quy định tại các Điều 272 (Đơn kháng cáo), Điều 273 (Thời hạn kháng cáo) của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về nội

4

dung và thời hạn kháng cáo, đủ căn cứ và hợp pháp để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Qua xem xét hồ sơ vụ án và nội dung kháng cáo của bà Huỳnh Thị Thu T, ông Phạm Tiến S, nhận thấy:

C thống nhất còn nợ bà T số tiền vốn vay là 665.000.000 đồng. Bà C cho rằng đây là nợ riêng, mục đích bà vay một phần là để trả tiền vay đáo hạn ngân hàng, một phần canh tác cây Thanh L và một phần bà cho người khác vay lại để hưởng tiền lãi chênh lệch nhưng do trồng Thanh L bị thua lỗ và người bà cho vay không thanh toán nên bà mất khả năng chi trả cho bà T.

Xét thấy, số tiền 665.000.000 đồng là khoản nợ bà C vay của bà T trong thời kỳ hôn nhân của bà với ông S nhằm mục đích để trả tiền nợ ngân hàng, trồng cây thanh long... để phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong cuộc sống. Bà C và ông S cho rằng số tiền còn nợ này là nợ riêng của bà C, không liên quan đến ông S nhưng ông, bà không có tài liệu, chứng cứ chứng minh bà C sử dụng số tiền này phục vụ riêng cho bà nên Tòa sơ thẩm buộc bà C và ông S có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ cho bà T số tiền vốn vay còn nợ 665.000.000 đồng là có cơ sở, kháng cáo của bà T và ông S không có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S. Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị đơn bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S thực hiện đúng quy định tại các Điều 272 (Đơn kháng cáo), Điều 273 (Thời hạn kháng cáo) của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về nội dung và thời hạn kháng cáo, đủ căn cứ và hợp pháp để xem xét theo trình tự phúc thẩm

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bà C, ông S giữ nguyên kháng cáo, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Bà Huỳnh Thị Thu T yêu cầu bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S liên đới thanh toán số tiền vốn vay còn nợ là 665.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất, trả một lần khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà C thống nhất có nợ bà T số tiền vốn vay là 665.000.000 đồng. Mục đích vay một phần để bà trả tiền vay đáo hạn ngân hàng, một phần canh tác cây thanh long và một phần bà cho người khác vay lại để hưởng tiền lãi chênh lệch nhưng do trồng Thanh L bị thua lỗ và người bà cho vay không thanh toán nên bà mất khả năng chi trả cho bà T. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3.2]. Xét nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ: Bà C và ông S cho rằng số tiền nợ mà bà T yêu cầu là nợ riêng của bà C, không liên quan đến ông S nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Việc bà C vay nợ trong thời kỳ hôn nhân với ông S để trả tiền vay ngân hàng, trồng cây thanh long là nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt

5

trong cuộc sống. Mặc dù, ông S không biết việc bà C vay tiền của bà T và khi vay tiền của bà T thì bà C không nói cho ông S biết. Nhưng ông S thừa nhận khi bà C bỏ nhà đi ông có hứa trả nợ cho bà T nhưng hiện nay, ông không có tài sản chỉ có thu nhập từ tiền lương nên không đồng ý liên đới cùng bà C trả tiền cho bà T. Căn cứ theo quy định tại các Điều 27, 30, 37 Luật hôn nhân và gia đình và các Điều 463, 466, 468 và 470 Bộ luật dân sự năm 2015, cấp sơ thẩm buộc bà C và ông S có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ cho bà T số tiền vốn vay còn nợ là 665.000.000 đồng là có căn cứ. Bà C và ông S kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới nên không chấp nhận kháng cáo của bà C và ông S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà C và ông S phải chịu án phí theo Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 357, Điều 463, 466, 468 và 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 27, 30, 37 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Huỳnh Thị Thu T đối với bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S.

Buộc bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Huỳnh Thị Thu T số tiền vốn vay còn nợ là 665.000.000 (sáu trăm sáu mươi lăm triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn

6

phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 30.600.000 (ba mươi triệu sáu trăm nghìn) đồng.

Huỳnh Thị Thu T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.700.000 (mười lăm triệu bảy trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003702 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S mỗi người phải chịu 300.000đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà C, ông S đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008679 và 0008680 cùng ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
  2. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  3. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hữu Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2024/DS-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 253/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc bà Trương Thị Kim C và ông Phạm Tiến S có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Huỳnh Thị Thu T số tiền vốn vay còn nợ là 665.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger