Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 253/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/7/2024.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Công Danh.
  2. Ông Huỳnh Thế Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thuý Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1156/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương H, sinh năm 1979.

Nơi đăng ký HKTT: 3/6A1, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên lạc: 32D, tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Lê Anh T, sinh năm 1978.

Địa chỉ: C, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà H, ông T có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50 ngày 14/10/2003. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể

hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông T có 02 con chung là cháu Lê Nguyễn Đoan T1, sinh ngày 06/11/2004 và cháu Lê Nguyễn Minh T2, sinh ngày 19/2/2007. Ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu T2; cháu T1 đã trên 18 tuổi có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tạm thời bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà H xin xét xử vắng mặt do bận công việc.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Anh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà H đăng ký kết hôn tại UBND phường B vào năm 2003. Quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn gì, thời gian gần đây công việc của ông không ổn định, ông có lời nói và hành động không đúng với bà H và con chung dẫn đến bà H dọn ra ở riêng cùng các con. Hiện nay ông vẫn còn tình cảm nên mong muốn được hàn gắn đoàn tụ, không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông và bà H có 02 con chung là là cháu Lê Nguyễn Đoan T1, sinh năm 2004 và cháu Lê Nguyễn Minh T2, sinh năm 2007. Ly hôn, ông đồng ý để bà H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu T2; cháu T1 đã trên 18 tuổi có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tạm thời bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương H. Cho bà H ly hôn với ông T.

Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Minh T2, sinh ngày 19/2/2007 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; cháu T1 đã trên 18 tuổi có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà H trình bày không có, ông T trình bày tự thỏa thuận. Tuy nhiên, bà H, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Phương H xin ly hôn với ông Lê Anh T. Căn cứ vào nội dung xác minh do Công an phường B, thành phố B cung cấp tại văn bản cung cấp thông tin đề ngày 20/5/2024 thể hiện ông T có nơi cư trú tại C, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Tại phiên tòa, bà H, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà H, ông T.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà H và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50 ngày 14/10/2003 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Theo trình bày của bà H thì sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng đều không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ, bà H xin được ly hôn với ông T. Toà án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H, ông T. Tại kết quả xác minh ngày 17 tháng 5 năm 2024, địa phương đã tiến hành xác minh thông tin thì kết quả là giữa bà H và ông T có xảy ra mâu thuẫn và nguyên nhân của việc mâu thuẫn là về chuyện gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ông T trình bày Tòa án giải quyết việc ly hôn, ông sẽ không đến Tòa án, cũng như không ký tên vào các biên bản của Tòa, không ý kiến gì thêm và từ chối ký vào biên bản phiên họp. Ông T muốn hàn gắn hòa giải đoàn tụ thành nhưng không đưa ra được ý kiến, biện pháp để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng trong khi đó bà H vẫn cương quyết ly hôn.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H, ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Ông T không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, nay bà H xin ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung:

Quá trình chung sống, bà H, ông T có 02 con chung là cháu Lê Nguyễn Đoan T1, sinh ngày 06/11/2004 và cháu Lê Nguyễn Minh T2, sinh ngày 19/2/2007. Ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu T2; cháu T1 đã

trên 18 tuổi có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu T2 trên 07 tuổi, qua tham khảo ý kiến của cháu T2 thì cháu có nguyện vọng được sống chung với bà H, được bà H trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định, tôn trọng nguyện vọng của cháu nên chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu Minh T2 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Do bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, nên tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung:

Bà H trình bày không có, ông Lê Anh T trình bày tự thỏa thuận. Tuy nhiên, bà H, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về nợ chung:

Đương sự trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Phương H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà

phù hợp với chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
  • Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương H, cho bà Nguyễn Thị Phương H được ly hôn với ông Lê Anh T.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Minh T2, sinh ngày 19/2/2007 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; cháu T1 đã trên 18 tuổi có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được

quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Phương H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai số 0003620 ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà (Bà H đã nộp xong).

6. Bà Nguyễn Thị Phương H, ông Lê Anh T được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên hòa;
  • - THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Bửu Long;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 253/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H và ông T tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger