Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 253/2025/DS - PT

Ngày 02 Tháng 4 năm 2025.

V/v: “ Tranh chấp QSD đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành
Các Thẩm phán: Ông Phan Đức Phương
Ông Nguyễn Văn Tửu

- Thư ký phiên tòa:

Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 05/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “ Tranh chấp QSD đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 627/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 551/2025/QĐPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1957 (có mặt)

Địa chỉ: A C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: T18;

Địa chỉ: 1 C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng S – Hội trưởng thuộc Họ đạo B (có mặt)

Địa chỉ: 4 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thanh H – Luật sư Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1959
  2. Bà Huỳnh Thị D1, sinh năm 19565
  3. Ông Huỳnh Công T, sinh năm 1968
  4. Ông Huỳnh Công T1, sinh năm 1971
  5. Ông Huỳnh Công T2, sinh năm 1955

Đại diện theo ủy quyền của các ông bà H1, D1, T, T1, T2: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1957

Địa chỉ: A (số M) C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H

Địa chỉ: F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ủy ban nhân dân Thành phố H( vắng mặt).

Địa chỉ: H L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. ( vắng mặt).

  1. Hội Thánh Cao đài Ban Chỉnh Đạo

Địa chỉ: A T, Phường F, thành phố B, tỉnh bến Tre.

Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Đ ( vắng mặt).

Người kháng cáo: bà Huỳnh Thị Diệu .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 14/03/2022 và ngày 14/04/2022, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Phía nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:

  • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BB 971664, vào sổ cấp GCN: CI 047550 do Sở Tài nguyên Thành phố H cấp ngày 17/12/2010 cho Thánh Thất Cao Đài Bình Hòa.
  • - Buộc Thánh Thất Cao Đài Bình Hòa giao trả toàn bộ phần đất thuộc thửa 94, bản đồ số 45; diện tích 1.323,2m2 ; toạ lạc tại A, C, phường A, quận B (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BB 971664, vào sổ cấp GCN: CI 047550 do Sở T.HCM cấp ngày 17/12/2010) cho gia đình chúng tôi.

Với lý do: nguyên phần đất này thuộc gia tộc của bà Huỳnh Thị D, không tặng cho/ hiến đất cho Thánh thất nên việc Thánh thất xin cấp quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận trên là không đúng.

Đối với công trình xây dựng trên đất là do ông Huỳnh Văn T3 xây dựng để cho con cháu và đồng đạo có chỗ sinh hoạt tôn giáo, yêu cầu bị đơn hoàn trả nguyên trạng cho gia đình; đối với những bức tường và mái tole lợp thêm sau này, gia đình nguyên đơn đồng ý hoàn lại giá trị theo kết quả thẩm định giá; còn đồ thờ cúng (tài sản có thể di dời) là của Họ Đạo nên bị đơn dọn đi, trả lại công trình xây dựng trên đất và toàn bộ diện tích đất cho con cháu của ông Huỳnh Văn T3.

Về thửa đất tranh chấp, nguyên đơn trình bày, có nguồn gốc như sau:

Ông Huỳnh Văn L (cố của nguyên đơn) mua thửa đất có diện tích 3.308m2, tọa lạc tại xã B, quận G, tỉnh Gia Định (nay là A C, phường A, quận B) từ ông Huỳnh Văn Đ1 (anh trai ông L1) theo giấy bán ngày 08/10/1906; Việc mua bán đã được cấp thẩm quyền chế độ cũ chứng thực - khoản IV trích sao sổ điền thổ số 3024/TS-TTTTLT của Sở địa chánh nhà đất, trung tâm thông tin lưu trữ tư liệu địa chính-nhà đất chế độ cũ xác định: ông Huỳnh Văn L1 đứng bộ lô đất số 05, tờ bản đồ thứ 09, tọa lạc tại B, diện tích 3.308m2.

Sau đó, ông Huỳnh Văn L1 đã chuyển cả gia đình về đây sinh sống. Vào năm 1933, ông Huỳnh Văn T3 (ông nội nguyên đơn ) đã xây dựng chùa T19 (nay là Thánh Thất Cao Đài B). Năm 1939, ông L1 mất, để lại thửa đất này cho là ông Huỳnh Văn T3.

Khi tiếp quản năm 1975, ông nội nguyên đơn và gia đình tiếp tục quản lý, xây dựng công trình thánh thất trong phần đất diện tích 1.323,2m2. Gia đình nguyên đơn ở ngay trong khuôn viên Thánh Thất để tiện bề chăm sóc, tôn tạo và bảo quản.

Năm 1976 ông Huỳnh Văn T3 chết thì cha nguyên đơn là ông Huỳnh Đình Đ2 thừa kế toàn bộ tài sản và quyền sử dụng đất này.

Năm 2007, ông Huỳnh Đình Đ2 mất, nguyên đơn (bà Huỳnh Thị D) tiếp tục thừa kế việc thờ cúng và quản lý giữ gìn công trình này.

Nhưng đến năm 1990, khi ông Ngô Văn H2 (chức việc toàn Đ4) đảm nhận Hội trưởng H6 đã kê khai gian dối rằng: “ Phần đất này là do ông nội tôi “hiến” cho đạo”, nhưng thực tế là ông nội nguyên đơn không hề hiến cho đạo mà chính tự tay ông (nội của nguyên đơn) đã xây dựng nên Đ4 và xây dựng nên Thánh thất.

Đến năm 2006, ông Nguyễn Hoàng S (là cháu của ông H2) đã gian dối làm hồ sơ không trung thực để Nhà nước cấp đất cho Thánh thất Cao Đài.

Cụ Huỳnh Văn L1 (chết 1939) và vợ Nguyễn Thị D2 (chết 1932) có con gồm:

  1. Huỳnh Thị H3 không rõ năm chết, có con là Võ Văn T4 1914 chết 1977.
  2. Huỳnh Văn T3 (1900 – 1976) có vợ Lê Thị N (1902 chết 1975) và các con gồm: Huỳnh Văn N1 (chết lúc nhỏ), Huỳnh Văn N2 (chết lúc nhỏ), Huỳnh Đình Đ3 (chết lúc nhỏ), Huỳnh Thị Độ N3 (chết lúc nhỏ), Huỳnh Thị T5 (1924 chết 1985), Huỳnh Đình Đ2 (1924 chết 2007), Huỳnh Thị T6 1935 (già yếu).

Huỳnh Đình Đ2 (1927 chết 2007), có vợ là Nguyễn Thị S1 và các con, gồm:

  1. Huỳnh Thị M (1950 chết 1976),
  2. Huỳnh Công T7 (1952 – 2020),
  3. Huỳnh Công T2 (1955),
  4. Huỳnh Thị D (1957),
  5. Huỳnh Thị H1 (1959),
  6. Huỳnh Công Toàn (1963 -2008),
  7. Huỳnh Thị D1 (1965),
  8. Huỳnh Công T (1968),
  9. Huỳnh Công T1 (1971),
  10. Huỳnh Văn Ngô 1905 chết 1958, con Huỳnh Văn N4 (không rõ năm chết)
  1. Huỳnh Thị P (1906 – chết 1938) có con là Huỳnh Kim N5 (1933 chết 2019).

Quá trình sử dụng đất ông L1 và ông T3 không để lại di chúc, không chia tài sản cho bất cứ ai. Khi ông Đ2 quản lý sử dụng thì chia cho các con của ông Đ2, tổng diện tích chia khoảng 600m2, phần bà Huỳnh Thị T6 (em ông Đ2) được sử dụng khoảng 800m2 trên tổng diện tích.

Bị đơn - Thánh Thất Cao Đài B trình bày:

Thánh thất Cao Đài Bình H4 tọa lạc tại địa chỉ số A đường C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc sau:

Năm 1930 có một số đạo tâm bán nhau cùng xây dựng một ngôi Thánh Thất mới để dễ bề tu hành và phổ độ nhơn sanh. Khi ấy có ông Huỳnh Văn L1 là thân phụ của ông Huỳnh Văn T3 và ông Huỳnh Văn N6 là một điền chủ có nhiều ruộng đất ở vùng ngã năm B thuộc xã B tỉnh Gia Định (nay là Phường A, Q. B, TP H) Các đạo tâm đã đề nghị và được ông L1 hiến một miếng đất bề ngang 35m, dài 54m, tổng diện tích là 1.900m2. Quí vị đạo tâm đã nhờ ông Nguyễn Văn N7 là Thông Phán Sở Công Chánh đứng tên và xin tách hộ thửa đất, Thánh Thất được dựng bằng mái lá, vách đất, bề ngang 10m, dài 20m.

Năm 1932, anh lớn Chánh Phối Sư Thượng Tương T9 đến thăm Thánh Thất B đã ủng hộ và vận động trong toàn đạo giúp Họ Đạo B xây dựng T khang trang hơn. Ngày 24/10/1933, Thánh T8 cũ đã được dỡ bỏ và xây dựng lại bằng vật liệu nặng (tường gạch, mái ngói) với đủ kết cấu 3 đài.

Năm 1934, hai anh lớn Quyền Đ (Nguyễn Ngọc T10) và Quyền Đầu Sư Ngọc Trang T11 (Lê Bá T12) đã về Thánh Thất B thành lập Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo. Thánh Thất B trở thành một trong hai cơ ngơi của Hội T13 Cao Đài Ban Chỉnh Đạo.

Ngày 25/4/1937, T18 được làm lễ khánh thành sau 4 năm xây dựng. Năm 1974 Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo không đồng thuận nên hoạt động hành đạo tách ra làm hai, một ở tại Thánh Thất A Bến Tre, một ở T Đ Quận F, S.

Năm 1975 ông Huỳnh Văn T3 - là con trai của chủ hiến đất Huỳnh Văn L1, lên làm Đầu Họ Đạo (thứ 5) của H Thánh Thất B. Năm 1976, ông Huỳnh Văn T3 chết, ông Nguyễn Văn N8 lên giữ chức vụ Đầu Họ Đ4 (thứ 6) của Họ Đạo B, ông N8 đã tu bổ toàn bộ các vật dụng bằng gỗ tại T.

Năm 1987 ông Huỳnh Đình Đ2 (là con của Giáo H5 Đầu Họ Đạo Thượng Tùng T14 – ông Huỳnh Văn T3 và là cháu nội của chủ hiến đất Huỳnh Văn L1) bị bệnh nên giao chức Hội T15 lại cho Lễ Sanh Ngọc Hanh T16.

Năm 1991 Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo đã chính thức sáp nhập lại tại T A Bến Tre. Họ đạo B đã được hoàn nguyên về H, tùng theo Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo Bến T17, dưới quyền của anh cả Nguyễn Ngọc T10.

Như vậy từ nguồn gốc đất của ngôi Thánh Thất B được chủ đất Huỳnh Văn L1 hiến đất cho Họ Đ4 Bình Hòa năm 1930, sau đó được các chức sắc khởi tạo xây dựng (ngày 24/10/1933) và đặt tên T18; An vị (ngày 26/7/1934) và Khánh thành (ngày 25/4/1937). Những năm kế tiếp sau này Họ Đạo B có xây dựng thêm Thiên Phong Đ5, Đ6 thờ Phật Mẫu, sửa chữa thêm Chánh Điện, Trại Thanh Niên Đại Đạo, Phòng Y Học cổ Truyền, Quán cơm chay xã hội trong khuôn viên đất của Thánh Thất B và được chính quyền địa phương cho phép, đã thể hiện quá trình sử dụng ngôi Thánh Thất trên đất ổn định, lâu dài, liên tục 89 năm qua (tính từ năm khởi tạo xây dựng 1933) của Họ Đạo B mà không có ai tranh chấp quyền sử dụng đất.

Căn cứ theo quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự “Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật” như sau: Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn át pháp luật nhưng ngay tình, liên tục công khai trong thời hạn 10 năm đoi với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sán đó kê từ thời điểm chiêm hữu, trừ trường họp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác."

Đến ngày 17/12/2010, Thánh thất Cao Đài Bình H4 đã được Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn khác liền với đất số BB 971.664, Số vào sổ cấp GCN: CT 04750, thửa đất số 94, tờ bản đồ số 45, diện tích: 1.323,2m2 tại địa chỉ: A đường C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do bà Huỳnh Thị D đại diện trình bày: Đồng ý và có cùng ý kiến với bà Huỳnh Thị Diệu .

Ủy ban nhân dân Thành phố H do Sở T có văn bản số 10693/STNMT-QLĐ ngày 12/12/2022 trình bày:

Theo Tờ đăng ký nhà đất năm 1999 được Ủy ban nhân dân P1 quận B xác nhận ngày 03/01/2000, khu đất A Chu Văn An P, quận B do Thánh thất Cao đài B quản lý sử dụng có nguồn gốc sử dụng do ông Huỳnh Văn L1 hiến, Thánh thất do bổn đạo xây dựng từ ngày 24/8/1933.

Năm 1997 bà Huỳnh Thị T6 có tranh chấp với ông Ngô Văn H2 (trụ trì thánh thất) về việc bà T6 tự ý xây dựng cổng sắt tại lối trổ của hàng rào dâm bụt ngăn cách phần khuôn viên đất của Thánh thất và khuôn viên đất của hộ bà T6 (phần đất của hộ bà T6 liền kề thánh thất Cao đài B và đã được cấp Ủy ban nhan dân Thành phố cấp Giấy chứng nhận số 6235/2001 ngày 23/4/2001). Sự việc đã được giải quyết xong theo Thông báo số 72/TB.QLĐT ngày 07/3/1997 của Phong Quản lý Đô thị quận B.

Ngày 07/8/2009 Thánh thất Cao đài T18 là thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tôn giáo đối với khu đất tại địa chỉ nêu trên. Ngày 09/10/2009 B Thường trực Hội thánh Cao đài Ban chỉnh đạo có văn bản xác nhận đất của tHánh thất Cao đài T18 là đất tôn giáo thuộc Hội thánh Cao đài Ban Chỉnh đạo Bến Tre quản lý và đề nghị xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Nhận thấy việc sử dụng đất tôn giáo của Thánh thất Cao đài Bình Hòa theo xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường P1, quận B là ổn định, lâu dài từ trước năm năm 1975, ý kiến chấp thuận và đề nghị xem xét cấp giấy chứng nhận của Giao hội và Ban Tôn giáo – Dân tộc Thành phố nên Sở T thừa ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tại khu đất trên là phù hợp với quy định của pháp luật đất đai năm 2003. Theo quy định hiện nay tại Điều 102 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 28 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 thì “Cơ sở tôn giáo được Nhà nước cấp phép hoạt động; sử dụng đất không có tranh chấp; nguồn gốc sử dụng đất không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho sau ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

Hội thánh Cao Đài Ban chỉnh đạo Bến tre có văn bản ngày 02/08/2023 nêu: Ông Huỳnh Văn L1 cùng các con hiến đứt đất cho Thánh thất Cao đài T18. Hội thánh làm cơ sở để Thánh thất B kê khai và có Quyết định công nhận quyền sử dụng đất số 4064/QĐ-UBND ngày 17/09/2010, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 971664. Các cháu cụ Huỳnh Văn L1 không còn quyền tranh chấp với Thánh thất T18. Đề nghị xử theo luật đất đai hiện hành.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 627/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh quyết định.

Căn cứ Khoản 2, 3, 9 Điều 26, Điều 34, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Điểm b Khoản 1 Điều 238, Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về:
    • - Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BB 971664, vào sổ cấp GCN: CI 047550 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 17/12/2010 cho Thánh Thất Cao Đài B.
    • - Yêu cầu Thánh Thất Cao Đài B giao trả toàn bộ phần đất thuộc thửa 94, bản đồ số 45; diện tích 1.323,2m2 ; toạ lạc tại A, C, phường A, quận B (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BB 971664, vào sổ cấp GCN: CI 047550 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 17/12/2010) cho gia đình nguyên đơn.

Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Trong hạn luật định bà Huỳnh Thị D kháng cáo bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện, các đương sự không hoà giải với nhau về việc giải quyết vụ án, người kháng cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo.

Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án; Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của người kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

  1. [1] Bà Huỳnh Thị D khởi kiện yêu cầu Thánh Thất Cao Đài B giao trả toàn bộ phần đất thuộc thửa 94, bản đồ số 45; diện tích 1.323,2m2 ; tọa lạc tại số A, C, phường A, quận B cho gia đình nguyên đơn vì cho rằng đất do ông Huỳnh Văn L (Liệu) đứng bộ, gia đình nguyên đơn không hiến đất, công trình xây dựng trên đất do ông Huỳnh Văn T3 xây dựng từ năm 1933. Bà D yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BB 971664, vào sổ cấp GCN: CI 047550 do Sở Tài nguyên Thành phố H cấp ngày 17/12/2010 cho Thánh Thất Cao Đài B.
  2. [2] Xét đơn kháng cáo của bà D; Hội đồng xét xử xét thấy:
  3. Theo Công văn số 3994/VPĐK-LT ngày 21/6/2024 của Văn phòng Đăng ký Đất đai Thành phố H, do bà Huỳnh Thị Diệu cung C: Bằng khoán 1046 Bình Hòa xã lập bộ ngày 10/3/1965: Loại và thể chất bất động sản lúc lập bằng khoán là đất thổ cư nhằm lô số 5 Tờ bản đồ thứ 9 có diện tích 1.801m2. Theo Khoản IV của Bằng khoán về Di chuyển chủ quyền: Huỳnh Văn L đứng bộ. (Tờ lược giải số 1 ngày 10/3/1965). Theo dữ liệu thông tin trên, ông Huỳnh Văn L đứng bộ 1.801m2 đất thổ cư tại xã B, không phải 3.308m2 đất như bà Huỳnh Thị D trình bày.

  4. [3] Xét ý kiến của bà D cho rằng không có việc hiến đất cho Thánh Thất Cao Đài B thấy rằng;
  5. Bị đơn trình bày về quá trình xây dựng Thánh thất C trên đất là có phù hợp thực tế và các tài liệu khác, phía bà Huỳnh Thị D không chứng minh được việc xây dựng Thánh Thất bằng nguồn tiền của ông Huỳnh Văn T3.

    Xét thấy; Thánh thất Cao Đài được xây dựng trên phần đất của ông Huỳnh Văn L và đến lượt con ông L là ông Huỳnh Văn T3 không có ý kiến phản đối, thể hiện sự đồng ý hiến đất cho Thánh Thất C.

    Tại phiên tòa sơ thẩm bà D và các anh em của bà D thừa nhận ông T3 đi tu và có ý nguyện xây dựng thánh thất để tu hành và để gia đình dòng họ có chỗ tu hành nên ông L đã tạo điều kiện để ông T3 xây thánh thất. Điều này chứng minh ý nguyện hiến đất xây dựng Thánh thất của ông Huỳnh Văn L và khi ông T3 đồng ý cho ông Nguyễn Ngọc T10 về hành đạo tại Thánh thất B từ năm 1934 và hoạt động theo Hội thánh Cao đài Ban chỉnh Đạo Bến T17 cho đến nay, điều này chứng minh rõ nét hơn sự đồng ý hiến đất và công trình trên đất thành cơ sở Thánh thất hoạt động dưới sự điều hành quản lý của Hội thánh Cao đài Ban chỉnh Đạo Bến T17, thể hiện việc chuyển giao quyền sở hữu về đất và công trình trên đất cho Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo, do đó gia tộc bà Huỳnh Thị D không còn quyền sở hữu đối với phần đất này, nên yêu cầu đòi đất của nguyên đơn là không có cơ sở theo Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Thánh Thất B được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BB 971664, vào sổ cấp GCN: CI 047550 ngày 17/12/2010. Lúc này C1 của ông Huỳnh Văn T3 còn con là bà Huỳnh Thị T6 (hiện vẫn đang sống ở phần đất bên cạnh) biết nhưng không phản đối. Năm 1999, bà T6 có tranh chấp mở cửa đi sang Thánh Thất C, ông Huỳnh Đình Đ2 là người đứng ra dàn xếp vụ việc tranh chấp, chính ông Huỳnh Đình Đ2 là cha bà D có Đơn ngày 07/04/1999 gửi Phòng Nhà đất Phường A quận B nêu rõ ông nội ông là Huỳnh Văn L1 có biếu cho Đ4 Cao Đài một phần đất để tu hành. Do vậy, Thánh thất Cao Đài Bình H4 được cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất dựa trên nguồn gốc đất được hiến tặng và được Ban Thường trực Hội Thánh Cao đài Ban chỉnh đạo đề nghị Ủy Ban nhân dân Thành phố X cấp Giấy chứng nhận là đúng quy định. Yêu cầu của nguyên đơn về hủy Giấy chứng nhận đã cấp cho Thánh Thất Cao đài B là không có cơ sở. Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không có chứng cứ nào mới làm thay đổi quyết định của Bản án sơ thẩm nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 248 BLTT dân sự.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị Diệu . Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 627/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ Khoản 2, 3, 9 Điều 26, Điều 34, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Điểm Khoản 1 Điều 238, Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về:
    • - Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BB 971664, vào sổ cấp GCN: CI 047550 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 17/12/2010 cho Thánh Thất Cao Đài B.
    • - Yêu cầu Thánh Thất Cao Đài B giao trả toàn bộ phần đất thuộc thửa 94, bản đồ số 45; diện tích 1.323,2m2 ; toạ lạc tại A, C, phường A, quận B (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BB 971664, vào sổ cấp GCN: CI 047550 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 17/12/2010) cho gia đình nguyên đơn.
  2. Án phí: Nguyên đơn được miễn nộp án phí do là người cao tuổi.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án..

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP.Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND TPHCM; (1)
  • - VKSND TPHCM ; (1)
  • - Cục THADS TPHCM; (1)
  • - Các đương sự (1)
  • - Lưu VT (5), DS (2) (BA- ĐA). (1)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2025/DS - PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp qsd đất

  • Số bản án: 253/2025/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1957 Bị đơn: T18;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger