|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 253/2024/DS-PT
Ngày 22 - 11- 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản và hợp đồng mua bán
hàng hóa”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương
Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Huệ
Ông Cao Minh Vỹ
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Trứ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duyên Trường - Kiểm sát viên
Trong các ngày 19 và 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 294/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 132/2023/DSST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 43/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 44/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 3 năm 2024, Thông báo v/v mở lại phiên tòa số 176/2024/TB- TA ngày 25 tháng 1 năm 2024, Thông báo v/v dời thời gian xét xử số 189/2024/TB- TA ngày 08 tháng 11 năm 2024, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 236/2024/QĐ- TA ngày 04 tháng 10 năm 2024 và số 237/2024/QĐ-TA ngày 19 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962 (có mặt);
- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc D, sinh năm 1957 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt) và bà Dương Thị N, sinh năm 1959 (vắng mặt);
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Quyết T1, sinh năm 1950(có mặt);
Địa chỉ: Số E L, phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Cùng địa chỉ: 5 H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Bà Tiêu Thị Ngọc T, sinh năm 1997 (có mặt);
Địa chỉ: 4 L, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số E L, phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-Người kháng cáo: Đồng bị đơn bà Dương Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 16 tháng 3 năm 2023 và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Từ năm 2007 đến năm 2009, bà Nguyễn Thị H có cho vợ chồng ông Phạm Ngọc D, bà Dương Thị N vay tiền để làm ăn. Lãi suất cho vay từ năm 2007 là 5%/tháng, lãi suất cho vay từ năm 2009 là 3%/tháng. Sau khi vay tiền, ông D, bà N không trả nợ gốc và lãi cho bà H. Vì vậy, ngày 24/6/2010 ông D, bà N có ủy quyền cho bà H liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để nhận số tiền 05 (năm) tỷ đồng được nhà nước bồi thường. Tuy nhiên, bà H liên hệ với Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì được biết là ông D bà N đã nhận một phần tiền, còn một phần tiền do Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố V thi hành nghĩa vụ trả nợ của ông D, bà N.
Sau nhiều lần đòi nợ thì ông D bà N có trả cho bà H số tiền 01(một) tỷ đồng vào ngày 03/01/2020 thì ngưng.
Đến nay, ông D bà N còn nợ bà H tiền gốc là 8.355.704.000 đồng và tiền lãi là 66.473.822.077 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 74.829.526.077 đồng.
iền
Vì vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà H cùng chồng là ông Vũ Quyết T1 khởi kiện ông D, bà N, yêu cầu buộc ông D bà N trả cho bà H, ông T1 số nợ gốc là 8.355.704.000 đồng và tiền lãi là 66.473.822.077đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 74.829.526.077đồng.
Bị đơn ông Phạm Ngọc D bà Dương Thị N vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 132/2023/DSST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tuyên xử:
[1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Phạm Ngọc D và bà Dương Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Buộc ông Phạm Ngọc D và bà Dương Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Quyết T1 số nợ gốc là 7.352.554.000 (bảy tỷ ba trăm năm mươi hai triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn) đồng và số tiền 34.305.185.817đồng (ba mươi bốn tỷ ba trăm lẻ năm triệu một trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm mười bảy) đồng lãi. Tổng số tiền nợ phải thanh toán là 41.657.739.817 (bốn mươi mốt tỷ sáu trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi chín nghìn tám trăm mười bảy) đồng.
[2]. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Phạm Ngọc D và bà Dương Thị N đối với yêu cầu trả khoản tiền mua bán hàng còn thiếu là 3.150.000 (ba triệu một trăm năm mươi nghìn) đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí giám định, án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 13-10-2023, bà Dương Thị N nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm tiền lãi cho vợ chồng bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các đương sự gồm bà H, ông T1 cùng bà N đã thỏa thuận thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án như sau:
- Ông Phạm Ngọc D và bà Dương Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Quyết T1 38.657.739.817 (ba mươi tám tỷ sáu trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi chín nghìn tám trăm mười bảy) đồng (trong đó bao gồm 7.352.554.000 đồng tiền nợ gốc và 31.305.185.817 đồng tiền lãi).
- Ông Phạm Ngọc D và bà Dương Thị N phải nộp 24.200.000 (hai mươi bốn triệu hai trăm nghìn) đồng chi phí giám định.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Ngọc D và bà Dương Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
-Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của đồng bị đơn nộp trong thời hạn luật định. Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bà Dương Thị N trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Bị đơn ông Phạm Ngọc D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm xử vắng mặt ông D theo quy định tại Khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự gồm bà H, ông T1 cùng bà N đã thỏa thuận thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Xét thấy, nội dung thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm; sửa bản án sơ thẩm số 132/2023/DSST ngày 21-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như sau:
- Ông Phạm Ngọc D và bà Dương Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Quyết T1 38.657.739.817 (ba mươi tám tỷ sáu trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi chín nghìn tám trăm mười bảy) đồng (trong đó bao gồm 7.352.554.000 đồng tiền nợ gốc và 31.305.185.817 đồng tiền lãi).
- Về chi phí giám định: Ông Phạm Ngọc D và bà Dương Thị N phải nộp 24.200.000 (hai mươi bốn triệu hai trăm nghìn) đồng. Do bà Nguyễn Thị H đã nộp trước nên ông D bà N phải trả lại cho bà H 24.200.000 (hai mươi bốn triệu hai trăm nghìn) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 22-11-2024).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Miễn án phí cho ông Phạm Ngọc D và bà Dương Thị N do là người cao tuổi
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị H do là người cao tuổi.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thương |
Bản án số 253/2024/DS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 253/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thoả thuận
