Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 253/2024/HS-ST

Ngày: 19-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Thắng

- Bà Vũ Thị Thanh Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Công Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định

tham gia phiên toà: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 245/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc T, sinh ngày 25 tháng 4 năm 2002; tại: Tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Khu N, xóm T, xã L (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1; mẹ đẻ: Đoàn Thị Lệ H; mẹ kế: Nguyễn Thị T2; vợ con: Không; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28-8-2020, bị Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12-7-2024, chuyển tạm giam từ ngày 21-7-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ, Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Trần Ngọc T3, ông Trần Công L; bà Trần Thị S (không triệu tập đến phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc T và Trần Ngọc T3, sinh năm 2002; nơi đăng ký thường trú: C, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định là bạn bè xã hội, quen biết nhau từ lâu.

Đầu tháng 6-2024, Nguyễn Quốc T thuê phòng trọ tại khu nhà trọ của bà Trần Thị S, sinh năm 1959; trú tại: Đường T, xóm T, xã L (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định.

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 11/7/2024, tổ công tác liên ngành của Công an thành phố N phối hợp Công an xã L (nay là Công an phường T), thành phố N tiến hành kiểm tra khu nhà trọ của bà Trần Thị S phát hiện Nguyễn Quốc T và Trần Ngọc T3 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng cao 20 cm, trên thân chai có chữ STING, nắp chai màu xanh, trên nắp đục 02 lỗ (01 lỗ gắn ống hút màu trắng dài 42 cm, 01 lỗ gắn ống thủy tinh màu trắng dài 12 cm, một đầu hình cầu bên trong có bám dính tinh thể màu trắng); ống thủy tinh màu trắng dài 12 cm, một đầu hình cầu bên trong có bám dính tinh thể màu trắng niêm phong (ký hiệu M1); 01 ống hút màu hồng dài 05 cm, một đầu vát nhọn, bên trong ống có bám dính tinh thể màu trắng niêm phong (ký hiệu M2); 01 bật lửa bằng nhựa màu trắng trên thân có chữ HOA VIET; 01 túi ni lông màu trắng kích thước (2,5x2) cm, bên trong có chứa hạt chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong (ký hiệu M3). Tạm giữ của Nguyễn Quốc T 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 18D1-133.47; Trần Ngọc T3 01 xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 18B2-324.27. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Quốc T và Trần Ngọc T3 theo quy định của pháp luật.

Ngày 12-7-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Quốc T và Trần Ngọc T3, niêm phong theo quy định của pháp luật, ký hiệu là T1 và T2.

Ngày 12-7-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra lệnh khám xét khẩn cấp số 569/LKX-ĐCSMT đối với nơi ở của Nguyễn Quốc T tại địa chỉ: Đường T, xóm T, xã L (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định. Kết quả khám xét không thu giữ, tạm giữ gì.

Bản kết luận giám định số 1297/KL-KTHS ngày 17-7-2024 Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • Mẫu dạng tinh thể màu trắng bám dính và mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng, được niêm phong kỳ hiệu M1, M2 và M3 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu M1: 0,038 gam, khối lượng mẫu M2: không xác định được khối lượng mẫu, khối lượng mẫu M3: 0,106 gam.
  • Đều tìm thấy thành phần chất Methamphetamine trong 02 (hai) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu T1 và T2 gửi giám định.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc T và Trần Ngọc T3 khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 11/7/2024, sau khi ăn cơm tại quán, T rủ T3 về phòng trọ của T cùng sử dụng ma túy, T3 đồng ý. Khoảng 20 giờ cả hai điều khiển xe máy đi về phòng trọ, T lấy từ phía sau bảng điện cạnh cửa ra vào ra 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2,5x2) cm, bên trong chứa ma túy tổng hợp dạng đá và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng cao 20 cm, trên thân chai có chữ STING, nắp chai màu xanh, trên nắp chai có đục 02 lỗ (01 lỗ gắn ống hút màu trắng dài 42 cm, 01 lỗ gắn ống thủy tinh màu trắng dài 12 cm, một đầu hình cầu); 01 ống hút màu hồng dài 05 cm, một đầu vát nhọn và 01 bật lửa bằng nhựa màu trắng trên thân có chữ HOA VIET để trên mặt giường sử dụng ma túy. T lấy ống hút màu hồng dài 05 cm, một đầu vát nhọn xúc một ít ma túy tổng hợp dạng đá đổ vào đầu hình cầu ống thủy tinh, số ma túy còn lại T để phía sau bảng điện cạnh cửa ra vào để khi sử dụng hết số ma túy đổ ra, T tiếp tục sử dụng số ma túy còn lại cho đến hết. T cầm bật lửa đốt đầu cầu ống thủy tinh có chứa ma túy cắm trên bộ bình rồi đưa cho T3 hút. Sau khi hút xong, T3 để bộ bình trên giường rồi đến lượt T tự cầm bật lửa đốt đầu hình cầu ống thủy tinh để hút, T và T3 liên tiếp sử dụng ma túy khoảng 04 đến 05 lần nữa, T là người cầm bật lửa đốt đầu cầu ống thủy tinh có chứa ma túy để cả hai thay nhau hút. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 11/7/2024 thì cả hai bị phát hiện và bắt quả tang như đã nêu trên.

Về nguồn gốc số ma túy trên, T khai được bạn tên S1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) chỉ biết quê Quảng Bình cho vào ngày 08/7/2024, tại khu vực chân cầu vượt xã L (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định, T mang về phòng trọ cất giấu mục đích để sử dụng. Do người tên S1 không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Về nguồn gốc chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 18D1-133.47, T khai là xe của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1970; trú tại: Thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Qua điều tra xác minh, nhận thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 18D1-133.47 là tài sản hợp pháp của ông T1 và ông T1 không biết việc T mượn xe máy đi sử dụng ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đả trả lại cho ông Nguyễn Văn T1. Ông T1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến, thắc mắc gì.

Về nguồn gốc chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 18B2- 324.27, T3 khai là xe của anh Phạm Mạnh T4, sinh năm 1982; trú tại: Số G đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Qua điều tra xác minh, nhận thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 18B2- 324.27 là tài sản hợp pháp của anh T4 và anh T4 không biết việc T3 mượn xe máy đi sử dụng ma túy nên Cơ quan cảnh

sát điều tra Công an thành phố N đả trả lại cho Phạm Mạnh T4. Anh T4 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến, thắc mắc gì.

Đối với số ma túy ký hiệu M3, T và T3 đều khai mục đích là để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng hết bị phát hiện bắt quả tang nên Nguyễn Quốc T chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” không xử lý T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bản cáo trạng số 249/QĐ-VKSTP ngày 24-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc T có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12-7-2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Quốc T.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Quốc T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng

của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Quốc T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 21 giờ 50 phút ngày 11-7-2024; Dữ liệu bản ảnh vật chứng; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu ngày 11-7-2024; Bản kết luận giám định số 1297/KL-KTHS ngày 17-7-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng thời gian từ 20 giờ đến 21 giờ 30 phút ngày 11-7-2024, Nguyễn Quốc T đã có hành vi tổ chức cho Trần Ngọc T3 sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang tại đường T, xóm T, xã L (nay là phường T), thành phố N.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người khởi xướng; cung cấp địa điểm; cung cấp ma tuý; rủ rê Trần Ngọc T3 sử dụng ma tuý; thực hiện các hoạt động cụ thể để sử dụng ma túy nên bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Quốc T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Quốc T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Nguyễn Quốc T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án như sau:

  • Đối với: 01 túi niêm phong số 1297/KL-KTHS đã thu giữ bao gồm các ký hiệu M1+M2+M3, trong đó M3 là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy, M1+M2 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với: 01 túi niêm phong số 1297/KL-KTHS đã thu giữ bao gồm các ký hiệu T1+T2 không còn giá trị sử dụng nên tiêu hủy.
  • Đối với: 01 chai nhựa màu trắng cao 20cm, trên thân chai có chữ STING, nắp chai màu xanh, trên nắp chai có đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút màu trắng dài 42cm; 01 bật lửa bằng nhựa màu trắng thên thân có chữ HOA VIET không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Một số vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên S1 đã đưa ma túy Nguyễn Quốc T để sử dụng, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với bà Trần Thị S là chủ nhà trọ, bà S không biết việc Nguyễn Quốc T thuê nhà trọ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với hành vi sử dụng ma túy ngày 11-7-2024 của Trần Ngọc T3 tại phòng trọ của Nguyễn Quốc T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T3.

[8] Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Quốc T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12-7-2024.

2. Xử lý vật chứng:

  • Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu giám định số 1297/KL-KTHS (ký hiệu M1+M2+M3); 01 chai nhựa màu trắng cao 20cm, trên thân chai có chữ STING, nắp chai màu xanh, trên nắp chai có đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút màu trắng dài 42cm; 01 bật lửa bằng nhựa màu trắng thên thân có chữ HOA VIET; 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu giám định số 1297/KL-KTHS (ký hiệu T1+T2).
  • (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29-10-2024).

3. Án phí:

  • Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.
  • Bị cáo Nguyễn Quốc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Quốc T được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Định

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 253/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger