TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 253/2024/HS-ST Ngày: 10-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tín
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Kiều Thị Thanh Nguyên
- Bà Lương Thị Kim Nghĩa
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 270/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo :
Nguyễn T L
sinh năm 19xx, tại: Thành phố H; Hộ khẩu thường trú: Số jj đường T, phường x, quận m, Thành phố H; giới tính: N; Quốc tịch: V; Dân tộc: Kinh; T: Không; n: Không; trình độ học vấn: j/12; con ông Nguyễn T K, sinh năm 19xx và bà Trần T B N, sinh năm: 19xx; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ; Tiền sự: Ngày 14/3/202x, bị Tòa án nhân dân Quận x, Thành phố H ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 18 tháng(Quyết định số 34/QĐ-TA ngày 14/3/2022). Chấp hành xong quyết định trên ngày 02/7/2023; Tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 12/01/2011 thực hiện hành vi: “Cướp giật tài sản”. Ngày 26/7/2011, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bản án số 74/2011/HSST ngày 26/7/2011). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/8/2012. Chấp hành đóng án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng vào ngày 14/02/2012. Bị cáo phạm tội khi 16 tuổi 01 tháng 12 ngày.
+ Ngày 20/11/2012 thực hiện hành vi: “Cướp giật tài sản”. Ngày 24/7/2013, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bản án số 178/2013/HSST ngày 24/7/2013). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2016. Chấp hành đóng án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng vào tháng 11/2013. Bị can phạm tội khi 17 tuổi 11 tháng 20 ngày.
+ Ngày 26/9/2016 thực hiện hành vi: “Cướp giật tài sản”. Ngày 05/4/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bản án số 28/2017/HSST ngày 05/4/2017). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/9/2020. Chấp hành xong đóng án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng vào ngày 04/10/2017 và ngày 19/9/2020. Bị cáo bị bắt ngày 04/12/2023(Có mặt).
Người làm chứng:
- 1/Ông Trần V K, sinh năm 19xx; Trú tại: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh V(Vắng mặt).
- 2/Ông Nguyễn V H, sinh năm 19xx; Trú tại: Số j đường H, phường B, quận B, Thành phố H(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 03/12/2023, tổ tuần tra Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân tuần tra đến trước nhà số jjj M, phường B, Quận B phát hiện Nguyễn V T là tài xế xe ôm công nghệ điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 65Kj – 486.jj phía sau chở Nguyễn T L có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay phải của L đang cầm 01 gói nylon chứa tinh thể không màu nghi vấn là ma túy nên đưa L cùng vật chứng về Công an phường Bình Trị Đông A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và hồ sơ vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bình Tân xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Nguyễn T L khai nhận: Số ma túy trên do L mua của một người thanh niên tên N (không rõ lai lịch) với giá 3.000.000 đồng tại trước nhà số jjj M, phường B, quận B vào ngày 01/12/2023 để sử dụng. Nguyễn V T là tài xế xe ôm công nghệ hãng Go được L đặt xe đi từ jjj M, phường B đi đến địa chỉ jj N, xã X, huyện H. Khi đang trên đường đi đến trước nhà số jj M, phường B thì Liêm bị lực lượng Công an bắt giữ. Tình không biết, không liên quan đến số ma túy của L. Lời khai của L phù hợp với lời khai của Tình và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ:
- + 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu.
- Tại kết luận giám định số: 13551/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn T L, Nguyễn V H (người chứng kiến), Lý V D (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 9,7750 gam, loại Methamphetamine.
- + 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh có số thuê bao 0933213xxx thu giữ của Nguyễn T L. L khai điện thoại trên dùng để liên lạc mua ma túy sử dụng
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Tại bản cáo trạng số: 251/CT-VKS ngày 06/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố bị cáo Nguyễn T L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân sau khi phân tích nội dung vụ án, phân tích chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249 điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn T L từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 46, điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn T L, Nguyễn V H (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Chữ ký giám định viên và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông A quận Bình Tân.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh có số thuê bao 0933213xxx.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong quá trình điều tra truy tố bị cáo Nguyễn T L Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, với lời khai của, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự qui định. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo do chay lười lao động, thích hưởng thụ nên sớm đi vào con đường nghiện ngập. Mặt khác ma túy còn làm người sử dụng tự hủy hoại bản thân mà còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình làm cho xã hội phải gánh chịu hậu quả to lớn do ma túy để lại, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây lan những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với người nghiện ma túy.
Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy, là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên Tàng trữ trái phép chất ma túy, bất chấp những qui định của pháp luật, điều đó thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cần có một khoảng thời gian dài cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo, từ bỏ con đường nghiện ngập mà phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo, tàng trữ ma túy qua giám định có khối lượng 9,7750g loại Methamphetamine. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 để truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét bị cáo có nhân thân rất xấu là đối tượng nghiện ma tuý. Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, tỏ ra ăn năn hối cải Hội đồng xét xử cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án nên miễn phạt bổ sung.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn T L, Nguyễn V H (người chứng kiến), Lý V D (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Chữ ký giám định viên qua giám định là Methamphetamine có khối lượng 9,7750g là vật Nhà nước cấm lưu hành sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh có số thuê bao 0933213xxx bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nguyễn T L do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bình Tân tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn V T không biết Nguyễn T L tàng trữ ma túy trong người nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với Tình là có căn cứ [8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn T L 06(sáu) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2023.
Căn cứ Điều 46, điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn T L, Nguyễn V H (người chứng kiến), Lý V D (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Chữ ký giám định viên.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh có số thuê bao 0933213xxx.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK24/231TV ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân)
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tín |
Bản án số 253/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 253/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn T L 06(sáu) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2023.
