|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 253/2024/HS-ST Ngày: 21/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Ông Vũ Thanh Tùng |
Các Hội thẩm nhân dân |
Ông Nguyễn Văn Thư |
Ông Nguyễn Phan Anh |
|
Thư ký ghi biên bản phiên tòa |
Bà Trần Phương Ly |
Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội. |
|
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: |
|
Ông Nguyễn Đức Thành – Kiểm sát viên. |
|
Ngày 21/8/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 211/2024/HSST ngày 11/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2024/QĐXXST-HS ngày 31/7/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 51/2024/HSST-QĐ ngày 14/8/2024, đối với các bị cáo có lý lịch như sau:
1. Họ và tên: Vũ Huy T – sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số A ngõ A phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Vũ Huy N – sinh năm 1962 (đã mất); Vợ: Tô Kim T1 – sinh năm 1984; Con: có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: 03 tiền án. Ngày 08/6/2016, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 26 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 12/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm tuyên phạt 26 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa xóa án tích); Ngày 07/7/2016, bị Tòa án nhân dân quận Long Biên xử 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa xóa án tích); Ngày 28/9/2020, bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 28 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã nộp án phí; ra trại ngày 20/10/2022; chưa xóa án tích). Nhân thân: Năm 2005, bị Công an phường M, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Năm 2013, bị Công an phường N, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 28/11/2006, bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 54 tháng tù về tội Cướp tài sản (phạm tội khi dưới 16 tuổi); Ngày 30/8/2013, bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (được tính vào tình tiết định khung tăng nặng của bản án năm 2020); D chỉ bản số 238 lập ngày 25/3/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. ( có mặt tại phiên toà).
2. Họ và tên: Trần Trung H – sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số I T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 9/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Trần Văn H1 – sinh năm 1951; Con bà: Đặng Thị T2 – sinh năm 1953; Vợ: Trần Hoài A – sinh năm 1984; Con: có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 08/6/2016, bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (đã nộp án phí, đã xóa án tích); D chỉ bản số 241 lập ngày 25/3/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. ( có mặt tại phiên toà).
3. Họ và tên: Vũ Văn T3 – sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tổ dân phố D, xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 09/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Vũ Văn T4 – sinh năm 1962; Con bà: Tống Thị D1 – sinh năm 1960; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 239 lập ngày 25/3/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam từ 15/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. ( có mặt tại phiên toà).
4. Họ và tên: Nguyễn Quốc H2 – sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số D ngõ A phố K, phường T, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 11/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Quốc B – sinh năm 1957; Con bà: Trần Thị Y – sinh năm 1961; Vợ: Giang Thị Thu T5 – sinh năm 1986; Con: Có 03 con; lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án; Ngày 31/8/2020, bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 48 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. (đã nộp án phí, ra trại ngày 07/9/2023; chưa xóa án tích); D chỉ bản số 240 lập ngày 25/3/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 15/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (có mặt tại phiên toà).
5. Họ và tên: Hoàng Văn Q – sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 9/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Không xác định; Con bà: Hoàng Thị N1 – sinh năm 1955; Vợ: Chu Thị Thanh N2 – sinh năm 1991; Con: có 02 con; lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 377 lập ngày 06/5/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
6. Họ và tên: Doãn Văn H3 – sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn P, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 12/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Doãn Văn N3 – sinh năm 1960; Con bà: Nguyễn Thị M – sinh năm 1965; Vợ: Dương Thị Ngọc H4 – sinh năm 1991; Con: có 03 con; lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 335 lập ngày 23/4/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2024 đến ngày 22/3/2024; Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên toà).
7. Họ và tên: Đặng Văn L – sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã Q, huyện P, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 12/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Đặng Văn B1 – sinh năm 1965; Con bà: Đào Thị C – sinh năm 1969; Vợ: Nguyễn Thị H5 – sinh năm 1998; Con: có 02 con; lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 336 lập ngày 23/4/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. ( có mặt tại phiên toà).
8. Họ và tên: Triệu Văn T6 – sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố D, xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 12/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Triệu Văn S – sinh năm 1972; Con bà: Lê Thị H6– sinh năm 1973; Vợ: Nguyễn Thị Tú L1 – sinh năm 1999; Con: có 02 con; lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 334 lập ngày 23/4/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên toà).
Người bị hại: Chị Lê Thị H7; anh Ngọ Phú Q1; anh Nguyễn Quang H8, chị Trương Thị Thùy L2; chị Trần Thị Ngọc A1; anh Trần Đăng L3; anh Dương Đức L4; anh Lê Hồng K; anh Nguyễn Hữu D2, anh Đoàn Trần Trung K1, anh Nguyễn Xuân T7, anh Phan Thế Q2, chị Nguyễn Thị Đ, anh Vì Văn Q3. (vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T8, ông Trần Văn H1, anh Lê Văn T9. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp ổn định nhưng muốn có tiền để tiêu xài nên các đối tượng Vũ Huy T (sinh năm 1990; trú tại số A phố L, tổ A phường T, quận H, thành phố Hà Nội), Nguyễn Nam H9 (sinh năm 1992; trú tại tổ B phường T, quận L, thành phố Hà Nội - Hiện nay chưa xác định được) và Trần Trung H (sinh năm 1990, trú tại số I đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) thường xuyên cùng nhau đi hoạt động trộm cắp tài sản. Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến ngày 11/3/2024, T cùng các đối tượng H, H9 đã gây ra 12 vụ trộm cắp tài sản, chiếm đoạt 14 xe máy các loại trên địa bàn các quận L, Đ, H, H, T, H thuộc thành phố Hà Nội. Toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt có tổng trị giá là 222.774.400 đồng.
Cụ thể như sau:
1. Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 7, 8 năm 2023, Vũ Huy T đi bộ lang thang đến khu vực phố N, phường V, quận H, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện thấy chiếc xe máy Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 98B1 - 760.22 của anh Nguyễn Văn H10 (sinh năm 2000; trú tại số A phố H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang) dựng tại nhà số 1 ngõ A phố N, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Quan sát thấy nhà không khoá cửa, không có người trông giữ. Thấy sơ hở, T đã mở cửa đi vào bên trong, đấu điện rồi dắt chiếc xe ra ngoài, nổ máy phóng xe đi. Sau đó, T đã bán chiếc xe máy trên cho một người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) với giá 4.000.000 đồng tại khu vực G, thành phố Hà Nội.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 99A/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: “...Xe máy nhãn hiệu Honda Dream, mang biển kiểm soát 98B1 – 760.22, có số khung 372691, số máy: 1672595, đã qua sử dụng, định giá 4.282.000 đồng...”
Hiện nay, chiếc xe máy trên chưa thu hồi được.
2. Vụ thứ 2: Vào buổi tối một ngày tháng 11/2023, Vũ Huy T đi bộ lang thang đến khu vực phố M, quận H, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện chiếc xe máy Honda Wave 110 màu xanh đen, biển kiểm soát 36F1 - 389.59 của anh Nguyễn Quang H8 (sinh năm 2007; trú tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) dựng tại nhà số H ngách A ngõ F phố M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Quan sát thấy nhà không khoá cửa, không có ai trông giữ. Thấy sơ hở, T đã đi vào, đấu điện rồi dắt chiếc xe ra ngoài, nổ máy phóng xe đi. Sau đó, T đã bán chiếc xe máy trên cho một người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) với giá 2.000.000 đồng tại khu vực đầu ngõ F phố M.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 99A/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: “...Xe máy Honda Wave màu đen bạc, mang biển kiểm soát 36F1 – 389.59, số khung: 256847, số máy: 1594684, đã qua sử dụng, định giá 13.731.400 đồng...”
Hiện nay, chiếc xe máy trên đã được Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn thu giữ và trao trả lại cho bị hại.
3. Vụ thứ 3: Rạng sáng ngày 03/11/2023, Vũ Huy T đi bộ lang thang đến khu vực phường V, quận H, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện chiếc xe máy Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 29D2 - 772.81 của anh Đoàn Trần Trung K1 (sinh năm 2004; trú tại số A ngõ C phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) dựng tại trước số nhà E ngách A phố L, phường V, quận H, thành phố Hà Nội (bên trong cốp xe có giấy tờ đăng ký xe). Thấy sơ hở, T đã đi vào, đấu điện rồi dắt chiếc xe ra ngoài, nổ máy phóng xe đi. Ngày 04/11/2023, T thuê người đánh chìa khóa xe, khi mở cốp xe thì phát hiện 01 giấy đăng ký xe mang tên Đoàn Trần Trung K1. Sau đó, T nhờ Đoàn Chiến T10 (sinh năm 1987; trú tại số H ngách B K, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) và Nguyễn Mạnh H11 (sinh năm 1995; trú tại ngõ A N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) cầm cố chiếc xe trên (T không nói là xe do trộm cắp mà có). Do có giấy tờ xe, Hiệp đồng ý và nhờ Lê Thanh T11 (sinh năm 1991; trú tại số C ngách F ngõ B T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) cầm cố chiếc xe trên tại cửa hàng cầm đồ số C phố B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội cho Nguyễn Ngọc Đ1 (sinh năm 1982; trú tại thôn T, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội) với giá 12.000.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 278/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận H, kết luận: “01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, xe mang biển kiểm soát 29D2 - 772.81, số máy: JA70E0073833; số khung: RLHJA3939PY055428, tài sản đã qua sử dụng định giá 18.000.000 đồng.”
Hiện nay, chiếc xe máy trên đã được Công an quận H và đã trả lại cho bị hại.
4. Vụ thứ 4: Rạng sáng ngày 17/11/2023, Vũ Huy T đem theo một thanh sắt đi bộ lang thang đến khu vực Chợ H12, phường C, quận H, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện chiếc xe máy Honda Dream màu tím, biển kiểm soát 29P1 - 987 của anh Nguyễn Xuân T7 (sinh năm 1995; trú tại thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội) dựng tại khu vực chân cầu thang tập thể số 1 phố N, phường C, quận H, thành phố Hà Nội không có ai trông giữ. Thấy sơ hở, T đã dùng thanh sắt phá khoá xe rồi đấu điện, nổ máy xe phóng đi. Sau đó, T đã bán chiếc xe máy trên cho Vũ Văn T3 với giá 5.000.000 đồng tại khu vực số nhà D phố V, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra thì T3 không nhận đã mua xe máy của T. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng các đối tượng vẫn giữ nguyên lời khai của mình.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 99A/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: “...Xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, mang biển kiểm soát 29.978 P1 có số khung: 04732, số máy: 4732. Xe đã qua sử dụng, định giá 5.870.000 đồng...”
Hiện nay, chiếc xe máy trên chưa thu hồi được.
5. Vụ thứ 5: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 26/11/2023, Vũ Huy T đi bộ lang thang đến khu vực phố D, phường V, quận H, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát 37G1 - 854.34 của anh Phan Thế Q2 (sinh năm 2004; trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) dựng trong nhà số B ngách A ngõ B phố D, phường V, quận H, thành phố Hà Nội, xe vẫn cắm chìa khoá. Quan sát thấy nhà không khoá cửa, không có ai trông giữ. Thấy sơ hở, T đã mở cửa vào nhà dắt chiếc xe máy trên ra ngoài, nổ máy phóng xe đi. Sau đó, T đã bán chiếc xe máy trên cho Vũ Văn T3 với giá 4.000.000 đồng tại khu vực số nhà D phố V. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra thì T3 không nhận đã mua xe máy của T. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng các đối tượng vẫn giữ nguyên lời khai của mình.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 99A/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: “...Xe máy Honda Wave màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 37G1 – 845.34, số khung: 200194, số máy: 23194488 đã qua sử dụng, định giá 14.981.600 đồng...”
Hiện nay, chiếc xe máy trên chưa thu hồi được.
6. Vụ thứ 6: Vào buổi tối một ngày tháng 12/2023, Vũ Huy T đi bộ lang thang đến khu vực phố M, quận H, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện chiếc xe máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 19G1 - 296.91 của chị Nguyễn Thị Đ (sinh năm 1987; trú tại xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ) dựng trong nhà trọ tại số H ngách A ngõ F phố M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Quan sát thấy nhà không khoá cửa, không có ai trông giữ. Thấy sơ hở, T đã mở cửa đi vào, đấu điện rồi dắt chiếc xe ra ngoài, nổ máy phóng xe đi. Sau đó, T đã bán chiếc xe máy trên cho Vũ Văn T3 với giá 3.500.000 đồng tại khu vực số nhà D phố V. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra thì T3 không nhận đã mua xe máy của T. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng các đối tượng vẫn giữ nguyên lời khai của mình.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 99A/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: “...Xe máy Honda Wave mang biển kiểm soát 19G1 - 296.91, số khung: 185498, số máy: 0185549, đã qua sử dụng chưa thu hồi định giá 8.665.700 đồng...”
Hiện nay, chiếc xe máy trên chưa thu hồi được.
7. Vụ thứ 7: Rạng sáng ngày 25/12/2023, Vũ Huy T đi bộ L6 tại khu vực phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện chiếc xe máy Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát 26N1 - 118.80 của anh Vì Văn Q3 (sinh năm 1986; trú tại Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La) dựng tại tầng 1 nhà số E ngõ L, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội không khoá cửa, không có người trông giữ. Thấy sơ hở, T đã mở cửa đi lên tầng 2, lấy chìa khoá xe máy rồi xuống tầng 1 mở khoá xe, dắt chiếc xe máy trên ra và nổ máy phóng đi. Sau đó, T đã bán chiếc xe máy trên cho Vũ Văn T3 với giá 4.000.000 đồng tại khu vực số nhà D phố V. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra thì T3 không nhận đã mua xe máy của T. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng các đối tượng vẫn giữ nguyên lời khai của mình.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 99A/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: “...Xe máy Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát 26N1 – 118.80, số khung: 567392, số máy: 3217662, đã qua sử dụng chưa thu hồi, định giá 18.167.500 đồng...”
Hiện nay, chiếc xe máy trên chưa thu hồi được.
8. Vụ thứ 8: Khoảng tối ngày 01/01/2024, Vũ Huy T mang theo kìm thuỷ lực đi bộ lang thang đến khu vực phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện chiếc xe máy Honda Supper Dream, biển kiểm soát 22S1 - 224.43 của anh Ngọ Phú Q1 (sinh năm 2003; trú tại Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang - biển số cũ là 22S2 - 0753) dựng tại nhà trọ số 42 ngách F ngõ F phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội có khoá cửa, không có người trông giữ. T đã dùng kìm thuỷ lực cắt khoá cửa rồi vào bên trong, dắt chiếc xe máy trên ra rồi đấu điện, nổ máy phóng xe đi. Sau đó, T đã bán chiếc xe trên cho Vũ Văn T3 với giá 5.000.000 đồng tại khu vực số nhà D phố V. Mặc dù, biết rõ là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vì hám rẻ nên Vũ Văn T3 vẫn mua. Sau khi mua xe máy trên, T3 đã bán lại cho Đặng Văn L (sinh năm 1994; trú tại xã Q, huyện P, thành phố Hà Nội) với giá 5.000.000 đồng. Đến ngày 16/02/2024, L đã bán chiếc xe máy trên cho Triệu Văn T6 (sinh năm 1994; trú tại Tổ dân phố D, phường C, thị xã D, Hà Nam) với giá 11.000.000 đồng (L hưởng lợi 6.000.000 đồng). Sau đó, T6 đã cắt và tẩy số khung của chiếc xe máy trên, cắt số khung của một xe máy khác để gắn vào với mục đích sử dụng. Khi mua xe, các đối tượng Đặng Văn L và Triệu Văn T6 biết rõ chiếc xe máy trên do trộm cắp mà có nhưng vì hám rẻ nên vẫn mua bán.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: “...01 chiếc xe Honda Super Dream biển kiểm soát 22S2-0753, SK 049124, SM 349174. Tài sản đã qua sử dụng, đã thu giữ định giá 15.000.000 đồng...”
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Triệu Văn T6 tài sản gồm: 01 xe máy Honda Dream, SK RLHHA0801AY330348, SM HA08E-1349174 không biển kiểm soát.
9. Vụ thứ 9: Rạng sáng ngày 25/02/2024, Vũ Huy T đi bộ lang thang đến khu vực phường K, quận T, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 89C2 - 000.76 của chị Trương Thị Thùy L2 (sinh năm 2001; trú tại xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên) dựng bên trong nhà trọ số 11 ngách A ngõ 1 phố K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội có cửa từ, nhiều người ra vào. T đã lợi dụng lúc cửa mở để đi vào, dắt chiếc xe máy trên ra ngoài rồi đấu điện, nổ máy phóng xe đi. Sau đó, T đã bán chiếc xe máy trên cho Doãn Văn H3 (sinh năm 1990; trú tại thôn P, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội) với giá 4.000.000 đồng tại khu vực Ga G, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Mặc dù, biết rõ chiếc xe máy trên do trộm cắp mà có nhưng vì hám rẻ nên Doãn Văn H3 vẫn mua để sử dụng làm phương tiện đi lại.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: “... 01 chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 89C2 – 000.76, SK 142444, SM 639360. Tài sản đã qua sử dụng, đã thu giữ định giá 16.250.000 đồng...”
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Doãn Văn H3 tài sản gồm: 01 chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 89C2 – 000.76, SK 142444, SM 639360.
10. Vụ thứ 10: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 29/02/2024, Vũ Huy T đi bộ lang thang đến khu vực phường V, quận H, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 17B2 - 703.76 của chị Trần Thị Ngọc A1 (sinh năm 2005; trú tại xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình) dựng trong nhà trọ số 15/124/63/27 phố V, phường V, quận H, thành phố Hà Nội không khoá cửa, không có ai trông giữ. Thấy sơ hở, T đã mở cửa đi vào dắt chiếc xe máy trên ra ngoài rồi đấu điện, nổ máy phóng xe đi. Sau đó, T đã bán chiếc xe máy trên cho Doãn Văn H3 với giá 4.000.000 đồng tại khu vực Ga G, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. H3 đã bán lại chiếc xe trên cho Hoàng Văn Q (sinh năm 1988; trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình) với giá 5.500.000 đồng tại khu vực Ga G, phường T, quận H, thành phố Hà Nội để Quyền sử dụng làm phương tiện đi lại (H3 được hưởng lợi số tiền 1.500.000 đồng). Khi mua xe, các đối tượng Doãn Văn H3 và Hoàng Văn Q biết rõ chiếc xe máy trên do trộm cắp mà có nhưng vì hám rẻ nên vẫn thực hiện việc mua bán.
Tại bản Kết luận định giá tài sản 42/KL-HĐĐGTS ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: “...01 chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 17B2 – 703.76, SK 247957, SM 744974. Tài sản đã qua sử dụng, đã thu giữ định giá 16.250.000 đồng...”
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Hoàng Văn Q tài sản gồm: 01 chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 17B2 – 703.76, SK 247957, SM 744974.
11. Vụ thứ 11: Rạng sáng ngày 11/3/2024, Nguyễn Nam H9 điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh (không rõ biển kiểm soát) của H9 chở Vũ Huy T đi đến khu vực phường N, quận L, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 17B4 - 735.58 của anh Nguyễn Hữu D2 (sinh năm 1998; trú tại xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình) dựng trong nhà số F ngõ C phố N, phường N, quận L, thành phố Hà Nội có khoá cửa, không có người trông giữ. H9 đã dừng xe đứng cảnh giới, còn T dùng kìm thuỷ lực cắt phá khoá cửa và đi vào bên trong. Sau đó, T đấu điện rồi dắt chiếc xe máy trên ra ngoài và nổ máy phóng đi. T đã mang chiếc xe trên bán cho Vũ Văn T3 với giá 4.900.000 đồng tại khu vực số nhà D phố V. Mặc dù, biết rõ chiếc xe máy trên do trộm cắp mà có nhưng vì hám rẻ nên Vũ Văn T3 vẫn mua.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 99A/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: “...Xe máy Honda Wave Alpha đen mang biển kiểm soát 17B4 – 735.58, số khung: 747707, số máy: 3227469 đã qua sử dụng, định giá 17.826.200 đồng...”
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ tài sản do anh Phan Hải Đ2 (sinh năm 1970; trú tại số nhà C ngõ A phố H, phường T, quận H, Hà Nội - là quản lý bãi xe) giao nộp: 01 xe máy Honda Wave Alpha đen mang biển kiểm soát 17B4 - 735.58, số khung: 747707, số máy: 3227469.
12. Vụ thứ 12: Tối ngày 11/3/2024, Vũ Huy T rủ Nguyễn Nam H9 đi hoạt động trộm cắp xe máy. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 11/3/2024, H9 điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh (không rõ biển kiểm soát) của H9 đến đón T tại số I đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Khi đi, T mang theo 01 balo đựng kìm thủy lực để làm công cụ trộm cắp. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 12/3/2024, khi đi qua nhà số A phố K, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội thì T phát hiện thấy có nhiều xe máy bên trong nhà khóa cửa, không có người trông giữ nên hai đối tượng bàn nhau trộm cắp. Lúc này, H9 dừng xe máy để cảnh giới ở khu vực vỉa hè đối diện còn T lấy kìm thủy lực phá khóa cửa để vào nhà trộm cắp xe máy. T đấu dây điện chiếc xe máy Honda Wave màu xanh đen, biển kiểm soát 21LA - 045.85 của anh Dương Đức L4 (sinh năm 2005; trú tại thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái) rồi dắt xe ra cửa, T đứng lên xe máy dùng mũ bảo hiểm che mắt camera tại góc trên cửa. Sau đó, T dắt chiếc xe trên ra ngoài đường, nổ máy và điều khiển xe đi cùng H9 đến ngõ A phố K, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội và cất giấu chiếc xe vừa trộm cắp và balo đựng kìm thủy lực tại đây. H9 tiếp tục chở T quay lại số nhà A phố K để T tiếp tục trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, T vào dắt chiếc xe máy Honda Vision màu xám, biển kiểm soát 36H1 - 130.93 của anh Lê Hồng K (sinh năm 2001; trú tại Khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa) đi ra cửa nhà. T ngồi trên chiếc xe vừa trộm cắp còn H9 điều khiển xe máy của mình, dùng chân đẩy xe máy trộm cắp và T đến đầu ngõ A phố K, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội thì dừng lại. Tại đây, T tháo biển kiểm soát chiếc xe này và IC của xe máy vứt đi. H9 tiếp tục đi xe máy rồi dùng chân đẩy T và chiếc xe vừa trộm cắp cất giấu vào ngõ I phố T, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội. Sau đó, H9 và T tiếp tục quay lại số nhà A phố K để trộm cắp tài sản. T đã dắt chiếc xe máy Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 29D2 - 465.79 của anh Trần Đăng L3 (sinh năm 1974; trú tại số B ngõ C phố L, phường L, quận B, thành phố Hà Nội) đi ra ngoài, đấu điện nổ máy xe và đi về khu vực phố V, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Tại số nhà D phố V, phường T, quận H, thành phố Hà Nội, T đã bán chiếc xe máy trên cho Vũ Văn T3 với giá 3.500.000 đồng. Mặc dù, biết rõ chiếc xe máy trên do trộm cắp mà có nhưng vì hám rẻ nên Vũ Văn T3 vẫn mua. Sau đó, H9 chở T về nhà tại số A ngõ A phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội để cất xe Wave của H9 rồi lấy xe Honda Vision màu xám, biển kiểm soát 29C2 - 054.82 của T để quay lại ngõ I T, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội lấy chiếc xe đã trộm cắp và cất giấu tại đây đến cất giấu tại số C ngách C ngõ C đường T, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội. Sau đó, H9 chở T về nhà T để H9 lấy xe máy đi về.
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/3/2024, T nhờ Trần Trung H chở đi lấy xe máy tại khu vực phố T. H đã rủ T đến nhà chơi để đợi khi nào H đi làm thì sẽ chở T đi lấy xe. Sau đó, H đã đi xe máy Honda Vision màu xám, biển kiểm soát 29BG - 003.87 đón T về nhà H tại số I phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, H chở T đến khu vực trước số C ngách C ngõ C đường T (lối đi từ ngõ G phố T vào). H chở T đến nơi cất giấu xe và quay ra cảnh giới, còn T nhanh chóng cầm IC và khóa từ đi vào, dắt xe máy cất giấu tại đây vào ngách cụt bên cạnh để lắp IC và khóa từ, sau đó cả hai rời đi. H đi làm, còn T đi chiếc xe trộm cắp đến bán cho Nguyễn Quốc H2 (sinh năm 1988; trú tại số D ngõ A phố K, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) với số tiền 10.000.000 đồng tại khu vực hồ T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Mặc dù, biết rõ là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vì hám rẻ nên Nguyễn Quốc H2 vẫn mua.
Từ ngày 15/3/2024 đến ngày 16/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã tiến hành bắt giữ các đối tượng Vũ Huy T, Trần Trung H, Vũ Văn T3, Nguyễn Quốc H2. Đồng thời, triệu tập các đối tượng gồm: Đặng Văn L, Doãn Văn H3, Triệu Văn T6, Hoàng Văn Q và các đối tượng có liên quan. Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 18/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận:
- 1. 01 chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 29D2 - 465.79; SK RLHJA3919LY201321; SM: JA39E1539218. Tài sản đã qua sử dụng, đã thu giữ định giá 18.500.000 đồng.
- 2. 01 chiếc xe Honda Vision màu xám đen biển kiểm soát 36H1 – 130.93, SM 839833, SK 139760. Tài sản đã qua sử dụng, đã thu giữ định giá 36.000.000 đồng.
- 3. 01 chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 21LA – 045.85, SK 042546, SM 057350. Tài sản đã qua sử dụng, đã thu giữ định giá 19.250.000 đồng.
Vật chứng vụ án
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ những đồ vật, tài sản sau:
- Thu giữ của Vũ Huy T: 01 bộ quần áo dài tay màu đen, 01 kìm thủy lực màu vàng đen, 01 balo màu xám.
- Thu giữ của Nguyễn Quốc H2: 01 xe máy Honda Vision màu xám, không biển kiểm soát (SK: RLHJK035XPZ139760, SM: JK03E7839833).
- Thu giữ của Trần Trung H: 01 xe máy Honda Vision, biển kiểm soát 29BG – 003.87 (SK: RLHJK0353PY134020, SM: JK03E8278185); 01 điện thoại Samsung A34 màu bạc (Imeil: 352879320400899, Imei2: 353339560400892) bên trong có gắn sim số 0979863609.
- Thu giữ của Triệu Văn T6 tài sản gồm: 01 xe máy Honda Dream, SK RLHHA0801AY330348, SM HA08E-1349174 không biển kiểm soát.
- Thu giữ của Doãn Văn H3 tài sản gồm: 01 chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 89C2 – 000.76, SK 142444, SM 639360.
- Thu giữ của Hoàng Văn Q tài sản gồm: 01 chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 17B2 – 703.76, SK 247957, SM 744974.
- Thu giữ tài sản do anh Phan Hải Đ2 (sinh năm 1970; trú tại số nhà C ngõ A phố H, phường T, quận H, Hà Nội - là quản lý bãi xe) giao nộp: 01 xe máy Honda Wave Alpha đen mang BKS 17B4 – 735.58, số khung: 747707, số máy: 3227469.
- Thu giữ của Trần Lệ N4: 01 xe máy Honda Vision màu đen, không biển kiểm soát (SK: TK 30E-8020091, SM: RLHJK0322NY020030).
- Thu giữ của Lê Văn T9: 01 xe máy Honda Wave, không biển kiểm soát (SK: RLHJA3919LY201321, SM: JA39E1539218).
- Thu giữ của Nguyễn Văn L5 (sinh năm 1970; trú tại số A ngách A ngõ X, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội) – là chủ phòng trọ nhà số A phố K: 01 USB có video camera ghi lại hình ảnh các đối tượng trộm cắp tài sản vào 03 giờ 05 phút ngày 12/3/2024 tại số A phố K, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Quá trình rà soát thu giữ 01 xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 21LA – 045.85 tại khu vực ngõ A phố K, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Xử lý vật chứng
- - Ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ trao trả cho Lê Hồng K tài sản gồm: 01 xe máy Honda Vision màu xám, không biển kiểm soát (SK: RLHJK035XPZ139760, SM: JK03E7839833);
- - Ngày 30/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ trao trả cho Nguyễn Hữu D2 tài sản gồm: 01 xe máy Honda Wave Alpha đen mang BKS 17B4 – 735.58, số khung: 747707, số máy: 3227469;
- - Ngày 01/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ trao trả cho:
- + Trần Thị Ngọc A1 tài sản gồm: 01 chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 17B2 – 703.76, SK 247957, SM 744974;
- + Ngọ Phú Quý tài sản gồm: 01 xe máy Honda Dream, SK RLHHA0801AY330348, SM HA08E-1349174 không biển kiểm soát;
- - Ngày 10/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ trao trả cho:
- + Trần Đăng L3 tài sản gồm: 01 xe máy Honda Wave, không biển kiểm soát (SK: RLHJA3919LY201321, SM: JA39E1539218);
- + Dương Đức L4 tài sản gồm: 01 xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 21LA – 045.85, số khung: RLHJA3935PY042546; số máy: JA70E0057350;
- + Trương Thị Thùy L2 tài sản gồm: 01 chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 89C2 – 000.76, SK 142444, SM 639360;
Đối với Vũ Văn T3, quá trình điều tra xác định: Vũ Văn T3 đã tiêu thụ 03 xe máy do Vũ Huy T trộm cắp mà có. Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 29D2 - 465.79, T3 mua với giá 3.500.000 đồng và đã bán lại cho anh Lê Văn T9 (sinh năm 1976; trú tại phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam) với giá 4.700.000 đồng. Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 17B4 - 735.58, T3 mua với giá 4.900.000 đồng và vẫn để tại bãi gửi xe số 31 phố V, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Đối với chiếc xe máy Honda Supper Dream, biển kiểm soát 22S1 - 224.43, T3 mua với giá 5.000.000 đồng và đã bán lại cho Đặng Văn L với giá 5.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản T3 tiêu thụ là 51.326.000 đồng. Tổng số tiền T3 hưởng lợi là 1.200.000 đồng. Tại cơ quan điều tra, Lê Văn T9 khai việc mua chiếc xe máy trên của Vũ Văn T3 để sử dụng và tự nguyện giao nộp chiếc xe máy trên để phục vụ điều tra. Khi T9 khi mua chiếc xe máy trên, T9 không biết chiếc xe là tài sản do phạm tội mà có. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe máy Honda Dream màu tím, biển kiểm soát 29P1 -987.P1; chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát 37G1 - 854.34; chiếc xe máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 19G1 - 296.91; chiếc xe máy Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát 26N1 - 118.80. Vũ Văn T3 không thừa nhận việc mua những chiếc xe này. Cơ quan điều tra đã cho các bị can tiến hành đối chất nhưng không có kết quả, không thu giữ được tang vật. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với T3 về hành vi tiêu thụ 04 chiếc xe này.
Tại Cơ quan điều tra, Doãn Văn H3 còn khai nhận đã mua 01 chiếc xe máy Honda Vision màu đen xám, biển kiểm soát 29C2 - 003.69 của Vũ Huy T vào chiều ngày 14/3/2024 với giá 9.700.000 đồng tại khu vực G, Hà Nội. Sau đó, H3 bán chiếc xe máy này cho Trần Lệ N4 (sinh năm 1987; trú tại số G đường Q, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội) với giá 13.000.000 đồng. Qua xác minh xác định chủ đứng tên đăng ký chiếc xe trên là Nguyễn Anh T12 (sinh năm 1987; trú tại số F phố H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, anh T12 khai khoảng năm 2022, T12 quen biết với một người tên H1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch). H1 có nhờ T12 đăng ký chiếc xe trên. Hiện T12 không biết H1 ở đâu, làm gì. Do chưa tìm được chủ sở hữu chiếc xe trên nên ngày 10/6/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu, hành vi liên quan đến chiếc xe máy trên và hành vi của Trần Lệ N4 để tiếp tục xác minh, làm rõ.
Đối với Nguyễn Nam H9, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã tiến hành xác minh tại địa chỉ tổ B phường T, quận L, thành phố Hà Nội xác định gia đình H9 đã bán nhà chuyển đi nơi khác sinh sống, không có thông tin trên dữ liệu dân cư. Do đó, ngày 10/6/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu, hành vi liên quan đến Nguyễn Nam H9 để tiếp tục xác minh, làm rõ.
Đối với người mua chiếc xe máy Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 98B1 - 760.22 và chiếc xe máy Honda Wave 110 màu xanh đen, biển kiểm soát 36F1 - 389.59. Ngày 10/6/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu, hành vi liên quan để tiếp tục xác minh, làm rõ.
Đối với chiếc xe máy Honda Vision, biển kiểm soát 29BG - 003.87 thu giữ của Trần Trung H, cơ quan điều tra đã xác minh xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là Trần Văn H1 (sinh năm 1951; trú tại ngách A phố V, phường C, quận H, thành phố Hà Nội) - là bố đẻ Trần Trung H. Tại Cơ quan điều tra, H1 khai cho con trai là Trần Trung H mượn chiếc xe trên để sử dụng hàng ngày. H1 không biết việc H sử dụng xe máy để giúp sức Vũ Huy T trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho Trần Văn H1.
Đối với Đoàn Chiến T10, Nguyễn Mạnh H11 và Lê Thanh T11 là những người giúp Vũ Huy T đem tài sản đi cầm cố. Khi đặt xe máy, những người này thấy tài sản có giấy tờ đăng ký, đồng thời không hề biết gì về nguồn gốc tài sản là do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với T10, H11 và T11 là có căn cứ.
Trách nhiệm dân sự
- - Các bị hại gồm các anh, chị: Lê Thị H7; Ngọ Phú Q1; Nguyễn Quang H8, Trương Thị Thùy L2; Trần Thị Ngọc A1; Trần Đăng L3; Dương Đức L4; Lê Hồng K; Nguyễn Hữu D2 và Đoàn Trần Trung K1 đã được Cơ quan điều tra trả lại tài sản nên không có đề nghị gì.
- - Bị hại Nguyễn Xuân T7 (chủ sở hữu xe máy Honda Dream màu bạc, biển kiểm soát 29P1 - 987) yêu cầu bị can bồi thường số tiền 30.000.000 đồng.
- - Bị hại Phan Thế Q2 (chủ sở hữu xe máy Honda Wave 110 màu đỏ, biển kiểm soát 37G1 - 85434) yêu cầu bị can bồi thường số tiền 12.000.000 đồng.
- - Bị hại Nguyễn Thị Đ (chủ sở hữu xe máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 19G1 - 29691) yêu cầu bị can bồi thường số tiền 12.000.000 đồng.
- - Bị hại Vì Văn Q (chủ sở hữu xe máy Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát 26N1 - 11880) yêu cầu bị can bồi thường số tiền 20.000.000 đồng.
Cáo trạng số 219/CT-VKSĐĐ ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo Vũ Huy T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm a, khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Trần Trung H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, truy tố các bị cáo Vũ Văn T3, Nguyễn Quốc H2, Triệu Văn T6, Hoàng Văn Q, Doãn Văn H3 và Đặng Văn L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
* Trước khi mở phiên toà, bị cáo Hoàng Văn Q có đơn xin xét xử vắng mặt, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và khẳng định Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
* Tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và rất ân hận với hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo T, bị cáo H thừa nhận việc bị truy tố về tội “ Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo T3, bị cáo H2, bị cáo H3, bị cáo T6, bị cáo L thừa nhận việc bị truy tố về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm b, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Huy T từ 08 năm tù đến 09 năm tù. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo: Trần Trung H từ 15 tháng tù đến 20 tháng tù. Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T3 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H2 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù. Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm t,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, xử phạt: Bị cáo Doãn Văn H3 từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, xử phạt: Bị cáo Triệu Văn T6 từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A345 màu bạc, tịch thu tiêu huỷ 01 bộ quần áo dài tay màu đen, 01 kìm thuỷ lực màu vàng đen, 01 ba lô màu xám.
Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
- - Buộc bị cáo Vũ Huy T bồi thường cho chị Nguyễn Thị Đ số tiền 8.665.000 đồng, bồi thường cho anh Phan Thế Quân s tiền 12.000.000 đồng, bồi thường cho anh V Văn Quyền số tiền 17.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Xuân T7 số tiền 5.870.000 đồng.
- - Buộc bị cá o Vũ Văn T3 phải truy nộp số tiền thu lời bất chính 1.200.000đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) sung công Quỹ nhà nước.
- - Buộc bị cá o Đặng Văn L phải truy nộp số tiền thu lời bất chính 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng) sung công Quỹ nhà nước. Ghi nhận việc bị cáo Doãn Văn H3 tự nguyện nộp lại số tiền thu lời bất chính 1.500.000 đồng.
Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Vũ Huy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng, các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, bị cáo Hoàng văn Q4 có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến về việc bị cáo Hoàng Văn Q xin xét xử vắng mặt, bị hại, người liên quan vắng mặt lần thứ hai và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt bị cáo Q, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng tới việc xét xử nên căn cứ Điều 290, 292 BLTTHS năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa các bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
- Từ tháng 7 năm 2023 đến ngày 11/3/2024 Vũ Huy T đã thực hiện 12 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn các quận L, H, H, T, H, Đ, thành phố Hà Nội lấy được 14 chiếc xe máy các loại, tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 222.274.400 đồng. Ngày 12/3/2024 bị cáo Trần Trung H giúp sức cho bị cáo Vũ Huy T trộm cắp chiếc xe máy Honda Vision màu xám BKS 36H1-130.93 của anh Lê Hồng K có giá trị 36.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Vũ Huy T đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Trung H đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Các bị cáo Vũ Văn T3, Nguyễn Quốc H2, Triệu Văn T6, Hoàng Văn Q, Doãn Văn H3 và Đặng Văn L mặc dù không bàn bạc trước nhưng biết rõ nguồn gốc tài sản là xe máy do trộm cắp mà có nhưng vẫn mua lại nhằm mục đích sử dụng hoặc bán kiếm lời. Trong đó, Vũ Văn T3 03 lần tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với tổng giá trị tài sản là 51.326.200 đồng, Doãn Văn H3 02 lần tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với tổng giá trị tài sản là 32.500.000 đồng, Nguyễn Quốc H2 01 lần tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với trị giá tài sản là 36.000.000 đồng, Hoàng Văn Q 01 lần tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với giá trị tài sản 16.000.000 đồng, Đặng Văn L tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có giá trị tài sản 15.000.000 đồng, Triệu Văn T6 01 lần tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với giá trị tài sản là 15.000.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Vũ Văn T3, Nguyễn Quốc H2, Triệu Văn T6, Hoàng Văn Q, Doãn Văn H3 và Đặng Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản cho người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố các bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về vai trò, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo:
Trong vụ án này bị cáo Vũ Huy T và bị cáo Trần Trung H phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ. Bị cáo T thực hiện 12 vụ trộm cắp, bị cáo H chỉ đồng phạm giúp sức cho T trong vụ trộm cắp thứ 12 để T lấy được tài sản mà T đã trộm cắp trước đó nhưng mang đi cất giấu ở một địa điểm khác.
Đối với bị cáo Vũ Huy T, Hội đồng xét xử xác định bị cáo giữ vai trò chính và cầm đầu, bị cáo đã thực hiện 12 vụ trộm cắp trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hà Nội (trong đó có 04 vụ thực hiện hành vi trộm cắp cùng Nguyễn Nam H9) và lấy được 14 chiếc xe máy các loại. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo T trộm cắp là 222.774.400 đồng. Đối với bị cáo Trần Trung H đồng phạm với bị cáo T trong vụ án thứ 12, cụ thể; ngày 12/3/2024 H dùng xe máy chở T đến ngõ I K và cảnh giới để T vào lấy chiếc xe máy Honda Vision của anh Lê Hồng K mà tối ngày 11/3/2024 T đã trộm cắp được và cất giấu tại đây, H không được hưởng lợi gì. Hành vi của bị cáo H là đồng phạm với vai trò không đáng kể nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “trộm cắp tài sản” đối với tài sản là 01 xe máy có giá trị 36.000.000 đồng.
Đối với các bị cáo Vũ Văn T3, Nguyễn Quốc H2, Triệu Văn T6, Hoàng Văn Q, Doãn Văn H3 và Đặng Văn L thực hiện hành vi phạm tội như sau: Bị cáo Vũ Văn T3 03 lần phạm tội, Lần 1 Thành tiêu thụ 01 xe máy trị giá 15.000.000 đồng, lần 2 Thành tiêu thụ 01 xe máy trị giá 17.826.000 đồng, lần 3 Thành tiêu thụ 01 xe máy trị giá 18.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà T3 tiêu thụ là 51.326.200 đồng. Bị cáo Doãn Văn H3 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, Lần 1 Huy tiêu thụ 01 xe máy trị giá 16.250.000 đồng, lần 2 Huy tiêu thụ 01 xe máy trị giá 16.250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà H3 tiêu thụ là 32.500.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Quốc H2 01 lần tiêu thụ 01 xe máy trị giá 36.000.000 đồng, bị cáo Hoàng Văn Q 01 lần tiêu thụ 01 xe máy trị giá 16.250.000 đồng, bị cáo Đặng Văn L 01 lần tiêu thụ 01 xe máy trị giá 15.000.000 đồng, bị cáo Triệu Văn T6 01 lần tiêu thụ 01 xe máy trị giá 15.000.000 đồng
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự chung của xã hội. Bản thân các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ được hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là phạm tội nhưng do tham lam tư lợi, muốn có tiền tiêu sài nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Vũ Huy T: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã tái phạm chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo được tính là “tái phạm nguy hiểm” và phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có 12 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, lấy việc trộm cắp làm nguồn sống chính nên vận dụng tình thần của Nghị quyết 01/2006 ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trần Trung H: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi bị phát hiện bị cáo đầu thú nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Vũ Văn T3, tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 03 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Hoàng Văn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Doãn Văn H3 có nhân thân tốt, đây là lần đầu tiên bị đưa ra xét xử, tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi bị cơ quan điều tra phát hiện bị cáo đầu thú và tích cực hợp tác với cơ quan điều tra khai báo hành vi phạm tội của mình giúp cơ quan điều tra làm sáng tỏ vụ án và phát hiện thêm tội phạm, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, ngoài ra bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền thu lời bất chính nên được áp dụng điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Quốc H2, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tiền án chưa xoá án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Các bị cáo Đặng Văn L, Triệu Văn T6 có nhân thân tốt, lần đầu bị đưa ra xét xử, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Đối với bị cáo Vũ Huy T: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị đưa ra xét xử về tội “ trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Trong vụ án này bị cáo đã trộm cắp nhiều tài sản với tổng giá trị tài sản lớn, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và đáp ứng phòng, chống tội phạm chung trong toàn xã hội.
- Đối với các bị cáo Trần Trung H là người có nhân thân xấu, trong vụ án này bị cáo chỉ tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo T trộm cắp tài sản chứ không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và đáp ứng phòng, chống tội phạm chung trong toàn xã hội.
Đối với các bị cáo Vũ Văn T3, Nguyễn Quốc H2, Hoàng Văn Q: Các bị cáo đều là người trưởng thành, có nhận thức nhưng do hám lợi nên đã thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Hoàng Văn Q trong thời gian được Cơ quan điều tra cho tại ngoại vẫn tiếp tục phạm tội và bị Cơ quan điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh bắt tạm giam, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội và đáp ứng phòng, chống tội phạm chung trong toàn xã hội.
Đối với bị cáo Doãn Văn H3, bị cáo Triệu Văn T6, bị cáo Đặng Văn L đều có nhân thân tốt, đây là lần đầu tiên bị đưa ra truy tố, xét xử, bị cáo H3 thực hiện hành vi phạm tội 02 lần nhưng các lần phạm tội của bị cáo đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hiện nay các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên để tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa thành công dân tốt, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao cho bị cáo H3, bị cáo T6, bị cáo L được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đảm bảo phòng ngừa chung và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
- - Các bị hại gồm các anh, chị: Lê Thị H7; Ngọ Phú Q1; Nguyễn Quang H8, Trương Thị Thùy L2; Trần Thị Ngọc A1; Trần Đăng L3; Dương Đức L4; Lê Hồng K; Nguyễn Hữu D2 và Đoàn Trần Trung K1 đã được Cơ quan điều tra trả lại tài sản nên không có đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm bà Lê Thị T8 và anh Lê Văn T9 không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Bị hại gồm Anh Nguyễn Xuân T7 yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 5.870.000 đồng, anh Phan Thế Q2 yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 14.981.600.000 đồng, chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.665.700 đồng, anh V Văn Q yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 18.167.500 đồng. Xét các yêu cầu này là đúng quy định pháp luật nên cần được chấp nhận, buộc bị cáo Vũ Huy T phải bồi thường cho anh Nguyễn Xuân T7, anh Phan Thế Q2, chị Nguyễn Thị Đ, anh V Văn Quyền số tiền trên.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T8 và anh Lê Văn T9 không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Samsung A34 màu bạc (Imeil: 352879320400899, Imei2: 353339560400892) bên trong có gắn sim thu giữ của bị cáo Trần Trung H là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước, đối với 01 bộ quần áo dài tay màu đen, 01 kìm thủy lực màu vàng đen, 01 balo màu xám thu giữ của bị cáo Vũ Huy T, bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- - Về số tiền thu lời bất chính: Buộc bị cáo Vũ Văn T3 truy nộp 1.200.000 đồng, buộc bị cáo Đặng Văn L truy nộp số tiền 6.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo Doãn Văn H3 truy nộp số tiền 1.500.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước (Bị cáo Doãn Văn H3 đã tự nguyện nộp lại số tiền 1.500.000 đồng thu lời bất chính theo Biên lai thu tiền số 0019353 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đông Đa) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Các vấn đề khác:
Đối với anh Lê Văn T9, tại cơ quan điều tra anh T9 khai việc anh mua chiếc xe máy Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 29D2 - 465.79 của Vũ Văn T3 để sử dụng và tự nguyện giao nộp chiếc xe máy trên để phục vụ điều tra. Khi T9 khi mua chiếc xe máy trên, T9 không biết chiếc xe là tài sản do phạm tội mà có. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe máy Honda Dream màu tím, biển kiểm soát 29P1 -987.P1; chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát 37G1 - 854.34; chiếc xe máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 19G1 - 296.91; chiếc xe máy Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát 26N1 - 118.80. Vũ Văn T3 không thừa nhận việc mua những chiếc xe này. Cơ quan điều tra đã cho các bị can tiến hành đối chất nhưng không có kết quả, không thu giữ được tang vật. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với T3 về hành vi tiêu thụ 04 chiếc xe này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại Cơ quan điều tra, Doãn Văn H3 còn khai nhận đã mua 01 chiếc xe máy Honda Vision màu đen xám, biển kiểm soát 29C2 - 003.69 của Vũ Huy T vào chiều ngày 14/3/2024 với giá 9.700.000 đồng tại khu vực G, Hà Nội. Sau đó, H3 bán chiếc xe máy này cho Trần Lệ N4 (sinh năm 1987; trú tại số G đường Q, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội) với giá 13.000.000 đồng. Qua xác minh xác định chủ đứng tên đăng ký chiếc xe trên là Nguyễn Anh T12 (sinh năm 1987; trú tại số F phố H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, anh T12 khai khoảng năm 2022, T12 quen biết với một người tên H1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch). H1 có nhờ T12 đăng ký chiếc xe trên. Hiện T12 không biết H1 ở đâu, làm gì. Do chưa tìm được chủ sở hữu chiếc xe trên nên ngày 10/6/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu, hành vi liên quan đến chiếc xe máy trên và hành vi của Trần Lệ N4 để tiếp tục xác minh, làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Nam H9, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã tiến hành xác minh tại địa chỉ tổ B phường T, quận L, thành phố Hà Nội xác định gia đình H9 đã bán nhà chuyển đi nơi khác sinh sống, không có thông tin trên dữ liệu dân cư. Do đó, ngày 10/6/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu, hành vi liên quan đến Nguyễn Nam H9 để tiếp tục xác minh, làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người mua chiếc xe máy Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 98B1 - 760.22 và chiếc xe máy Honda Wave 110 màu xanh đen, biển kiểm soát 36F1 - 389.59. Ngày 10/6/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu, hành vi liên quan để tiếp tục xác minh, làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe máy Honda Vision, biển kiểm soát 29BG - 003.87 thu giữ của Trần Trung H, cơ quan điều tra đã xác minh xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là Trần Văn H1 (sinh năm 1951; trú tại ngách A phố V, phường C, quận H, thành phố Hà Nội) - là bố đẻ Trần Trung H. Tại Cơ quan điều tra, H1 khai cho con trai là Trần Trung H mượn chiếc xe trên để sử dụng hàng ngày. H1 không biết việc H sử dụng xe máy để giúp sức Vũ Huy T trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho Trần Văn H1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Đoàn Chiến T10, Nguyễn Mạnh H11 và Lê Thanh T11 là những người giúp Vũ Huy T đem tài sản đi cầm cố. Khi đặt xe máy, những người này thấy tài sản có giấy tờ đăng ký, đồng thời không hề biết gì về nguồn gốc tài sản là do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với T10, H11 và T11 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Vũ Huy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố: Bị cáo Vũ Huy T và bị cáo Trần Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Vũ Văn T3, Nguyễn Quốc H2, Triệu Văn T6, Hoàng Văn Q, Doãn Văn H3 và Đặng Văn L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2/ Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm b, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Vũ Huy T 08 ( tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính ngày 15/3/2024.
2.1 Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Trần Trung H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính ngày 16/3/2024.
2.2 Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T3 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính ngày 15/3/2024.
2.3 Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc H2 18(mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính ngày 15/3/2024.
2.4 Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính ngày bị cáo chấp hành án.
2.5 Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm t,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Doãn Văn H3 15(mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/8/2024.
Giao bị cáo Doãn Văn H3 cho UBND xã P, huyện P, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã P, huyện P, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
2.6 Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn L 09(chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/8/2024.
Giao bị cáo Đặng Văn L cho UBND xã Q, huyện P, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Q, huyện P, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
2.7 Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn T6 09(chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 18(mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/8/2024.
Giao bị cáo Triệu Văn T6 cho UBND phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
3/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự
Buộc bị cáo Vũ Huy T phải bồi thường cho anh Nguyễn Xuân T7 số tiền 5.870.000 đồng, bồi thường cho anh Phan Thế Quân s tiền 14.981.600.000 đồng, bồi thường chị Nguyễn Thị Đ số tiền 8.665.700 đồng, bồi thường cho anh V Văn Quyền số tiền 18.167.500 đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Vũ Huy T chậm thực hiện nghĩa vụ về bồi thường thiệt hại thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả theo quy định tại các Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4/ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Buộc bị cáo Vũ Văn T3 phải truy nộp số tiền thu lời bất chính 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) sung công Quỹ nhà nước.
- - Buộc bị cáo Đặng Văn L phải truy nộp số tiền thu lời bất chính 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng) sung công Quỹ nhà nước.
- - Ghi nhận bị cáo Doãn Văn H3 đã tự nguyện nộp lại số tiền 1.500.000 đồng thu lời bất chính theo Biên lai thu tiền số 0019353 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đông Đa, thành phố Hà Nội.
- - Tịch thu sung công quỹ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34 màu bạc (Imeil: 352879320400899, Imei2: 353339560400892) đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong (bên trong có gắn sim);
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ quần áo dài tay màu đen (đã qua sử dụng), 01 kìm thuỷ lực màu vàng đen (đã qua sử dụng), 01 ba lô màu xám (đã qua sử dụng).
Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng số 281 ngày 13/8/2024 giữa Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
5/ Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
Các bị cáo Vũ Huy T, Trần Trung Hiếu Vũ Văn T13, Nguyễn Quốc H2, Triệu Văn T6, Hoàng Văn Q, Doãn Văn H3 và Đặng Văn L mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Vũ Huy T phải chịu 2.384.240 đồng ( hai triệu ba trăm tám mươi tư nghìn hai trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo Hoàng Văn Q, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Tùng |
Bản án số 253/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 253/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
