Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 253/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18/7/2024.

V/v: “Ly hôn,

tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Kim Ngân.

2. Ông Trương Thanh Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 397/2023/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Trúc P, sinh năm 1991.

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Bị đơn: Anh Võ Minh T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: 40/47, ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lí do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến và đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lê Thị Trúc P có lời trình bày:

Chị và anh Võ Minh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 06/02/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T nhậu nhẹt nhiều, không lo cho gia đình, chị đã khuyên nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi từ đó vợ chồng không có tiếng nói chung, hiện hai người đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay nhưng không thể hàn gắn lại được tình cảm. Nay chị yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Trúc M, sinh ngày 19/5/2012, hiện đang sống với chị, khi ly hôn chị P yêu cầu nuôi con chung, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Võ Minh T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P cho chị P được ly hôn với anh T; về con chung tên Võ Thị Trúc M, sinh ngày 19/5/2012, hiện đang sống với chị P đề nghị giao cháu M cho chị P nuôi và ghi nhận chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con; về tài sản chung và nợ chung không có đề nghị không xem xét giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng:

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng qui định.

Bị đơn trong vụ án vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung:

Nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 06/02/2012, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thời gian đầu sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng được một thời gian đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẩn mà nguyên nhân theo nguyên đơn nêu do anh T nhậu nhẹt nhiều, không lo cho gia đình, chị đã khuyên nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi từ đó vợ chồng không có tiếng nói chung, hiện hai người đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay mà không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Anh T đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách tuy nhiên anh không đến tham dự phiên họp.

Từ những phân tích, đánh giá như trên, Hội đồng xét xử nhận định nguyên đơn cương quyết ly hôn còn bị đơn dù biết ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng bị đơn đã bỏ mặc cho nguyên đơn tự giải quyết, không cùng nguyên đơn có các biện pháp tích cực nhằm cải thiện tình trạng hôn nhân của cả hai để kéo dài mối quan hệ hôn nhân. Như vậy tình trạng hôn nhân của cả hai đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử cần thiết phải chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn là do sự tự nguyện của nguyên đơn vì vậy cần ghi nhận.

Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Trúc M, sinh ngày 19/5/2012, hiện đang sống với chị P, khi ly hôn chị P yêu cầu nuôi con chung, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử nhận thấy khi vợ chồng ly hôn, việc giao con cho ai nuôi là phải đảm bảo về mọi mặt cho con chung, đối với nguyên đơn sau khi hai vợ chồng sống ly thân chị P là người trực tiếp nuôi con chung đồng thời nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi cũng muốn sống với chị vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Võ Thị Trúc M cho nguyên đơn nuôi trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng cho con do nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu vì vậy Hội đồng xét xử cần ghi nhận.

Về tài sản chung: Nguyên đơn trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Lời phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tại phiên tòa về hình thức, nội dung vụ án là phù hợp với việc xem xét, đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử vì vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, nguyên đơn phải có nghĩa vụ chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001230 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Trúc P.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Trúc P được ly hôn với anh Võ Minh T.
  2. Về con chung:
  3. Chị Lê Thị Trúc P có quyền, nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Võ Thị Trúc M, sinh ngày 19/5/2012, hiện đang sống với chị P.

    Anh Võ Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền, nghĩa vụ này tuy nhiên khi người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng cho con.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  4. Về tài sản chung: Không có.
  5. Về nợ chung: Không có.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  7. Chị Lê Thị Trúc P phải có nghĩa vụ chịu số tiền 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001230 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

  8. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Chợ Lách, tỉnh BT;
  • - Chi cục THADS huyện C, tỉnh BT;
  • - UBND xã Đ, huyện M, tỉnh BT;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Chí Cường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Đinh Hồ Mỹ NgọcPhạm Gia Ảnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 253/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ph - TH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger