Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê

Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 148/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐ-ST ngày 12/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 149/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nông Thị S, sinh ngày 05/01/1994 (vắng mặt)
  2. Nơi thường trú: thôn Đ, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang (hiện đang lao động tại Hàn Quốc, không rõ địa chỉ).

    Người nhận văn bản tố tụng cho chị S: anh Trần Văn Đ, sinh năm 1987;

    Địa chỉ: Chung cư T, A, huyện H, thành phố Hà Nội (văn bản đề nghị ngày 11/6/2024)

  3. Bị đơn: Anh Phạm Văn L, sinh ngày 09/9/1993 (vắng mặt)
  4. Nơi thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: thôn Đ, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang (hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1960 (vắng mặt)
    • - Bà Lưu Thị N, sinh năm 1962 (vắng mặt)

    Đều ở cùng địa chỉ: thôn Đ, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nông Thị S trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 15/8/2013 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh L làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2016 anh L đi Hàn Quốc lao động. Sau khi anh L đi lao động vợ chồng vẫn hòa thuận đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nên chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Tháng 11/2022 chị đi lao động tại Hàn Quốc nhưng khi chị sang vợ chồng không liên lạc và gặp nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn anh, chị nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh, chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 11/2022 đến nay chị và anh L không ai quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Phạm Văn L.

Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 24/02/2014. Từ khi chị đi nước ngoài lao động chị nhờ ông bà nội (ông T, bà N) chăm sóc giúp, hàng tháng chị vẫn gửi tiền về cho ông bà nuôi dưỡng cháu. Do chị về thăm gia đình sau đó sẽ tiếp tục quay trở lại Hàn Quốc lao động, nên sau khi ly hôn chị đề nghị giao cháu K cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu khánh cho ông T, bà N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị S đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử. Chị đề nghị Tòa án tống đạt các văn bản cho anh Trần Văn Đ, sinh năm 1987; địa chỉ: Chung cư T, A, H, Hà Nội.

Anh Phạm Văn L là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hồng T, bà Lưu Thị N trình bầy:

Về hôn nhân: anh L, chị S được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị S về nhà ông, bà làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn năm 2016 anh L đi lao động tại Hàn Quốc. Sau khi anh L đi một thời gian thì anh, chị phát sinh mâu thuẫn nên chị S về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Năm 2022 chị S đi lao động tại Hàn Quốc. Kể từ đó chị S không về chung sống cùng ông, bà nữa. Ông bà có khuyên bảo anh, chị nhưng không được.

Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 24/02/2014, hiện đang sinh sống cùng ông, bà. Ông, bà đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K cho chị S đến khi chị S về nước sinh sống. Ông, bà xác định việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K từ khi anh L, chị S đi lao động nước ngoài cho đến nay là quyền cũng như nghĩa vụ của ông bà đối với con cháu nên không yêu cầu anh L, chị S phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K. Quá trình đi nước ngoài anh L, chị S vẫn gửi tiền về cho ông, bà nuôi dưỡng cháu K.

Về tài sản, công nợ chung: Anh, chị không có tài sản, công nợ nào chung.

Ngoài ra ông T, bà N trình bày: trước khi đi lao động tại Hàn Quốc anh L sinh sống cùng gia đình tại thôn Đ, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Hàn Quốc anh L vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Gia đình đã thông báo cho anh L biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị S và anh L. Anh L cho biết anh đồng ý ly hôn với chị S và đề nghị giao con theo quy định của pháp luật. Ông T, bà N đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử.

Cháu Phạm Duy K trình bày: cháu sinh sống cùng mẹ cho đến khi mẹ đi lao động tại nước ngoài. Sau khi mẹ đi lao động cháu chuyển sang sống cùng ông bà nội. Quá trình chung sống cùng ông, bà cháu được ông, bà chăm sóc tốt. Bố cháu đi lao động từ khi cháu còn nhỏ, ít hỏi thăm cháu. Mẹ cháu đi nước ngoài lao động nhưng vẫn thường xuyên liên lạc hỏi thăm cháu. Nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn ở cùng mẹ, tạm thời cháu sẽ ở với ông bà nội.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nông Thị S, ông Phạm Hồng T, bà Lưu Thị N vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt, anh Phạm Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nông Thị S; Biên bản làm việc với ông Phạm Hồng T, bà Lưu Thị Nhất bố mẹ của anh Phạm Văn L và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Nông Thị S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hồng T, bà Lưu Thị N xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Phạm Văn L không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị S; xử:

Về hôn nhân: chị Nông Thị S được ly hôn anh Phạm Văn L.

Về con chung: Do anh L, chị S hiện đang lao động tại nước ngoài nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Duy K cho chị Nông Thị S nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cháu K cho ông T, bà N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị S về nước sinh sống.

Chị Nông Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp: Chị S khởi kiện xin ly hôn anh L và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Công văn số 17249/QLXNC-P3 ngày 07/8/2024 của Cục Q-Bộ C cung cấp, anh Phạm Văn L đã xuất nhập cảnh 01 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 15/12/2016, chị Nông Thị S đã xuất nhập cảnh 05 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 12/6/2024, cả hai hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, anh L, chị S được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh L là bị đơn có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án có đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về việc vắng mặt đương sự:

Đối với nguyên đơn chị Nông Thị S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hồng T, bà Lưu Thị N xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Đối với bị đơn anh Phạm Văn L: Căn cứ lời khai của nguyên đơn chị S và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Hồng T, bà Lưu Thị N (bố mẹ anh L) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh L ở Việt Nam là: thôn Đ, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh L thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho anh L biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị Nông Thị S và anh Phạm Văn L. Gia đình anh L cho biết anh L vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh L không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh L tại Hàn Quốc. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4]. Về hôn nhân: Chị Nông Thị S và anh Phạm Văn L kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 15/8/2013 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị S, anh L phát sinh mâu thuẫn, chị S xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Phạm Văn L.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị S với anh L, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị S, anh L chung sống hòa thuận sau đó năm 2016 anh L sang nước ngoài lao động. Anh L sang nước ngoài lao động một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên chị S chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Năm 2022 chị S cũng sang Hàn Quốc lao động. Tuy nhiên khi chị S sang Hàn Quốc lao động vợ chồng không gặp mặt cũng như liên lạc với nhau. Ông T, bà N cung cấp anh L, chị S phát sinh mâu thuẫn nên chị S về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Năm 2022 chị S đi lao động tại Hàn Quốc. Kể từ đó chị S không về chung sống cùng ông, bà nữa. Ông bà có khuyên bảo anh, chị nhưng không được. Do đó, Hội đồng xét xử xác định anh L, chị S không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S với anh L, xử cho chị Nông Thị S được ly hôn anh Phạm Văn L là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[5]. Về nuôi con chung: Chị S và anh L có 01 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 24/02/2014. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng ông T, bà N. Sau ly hôn chị S đề nghị giao cháu K cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông T, bà N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị S về nước sinh sống. Cháu K có nguyện vọng được ở cùng mẹ và tạm thời ở cùng ông T, bà N trong thời gian mẹ ở nước ngoài.

Xét yêu cầu giao con chung của chị S, Hội đồng xét xử thấy: anh L, chị S hiện nay đang lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Tuy nhiên, ông T, bà N đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K thay chị S cho đến khi chị S về nước sinh sống. Ngoài ra, cháu K có nguyện vọng ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn, mặc dù bố mẹ đều đi lao động nước ngoài nhưng mẹ thường xuyên gọi điện hỏi thăm còn bố thì ít khi hỏi thăm. Do đó, Hội đồng xét xử thấy căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị S. Giao cháu Phạm Duy K, sinh ngày 24/02/2014 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Nhưng do chị S đang lao động tại nước ngoài nên tạm giao cháu K cho ông T, bà N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị S về nước sinh sống là phù hợp Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình, phù hợp với tình hình thực tế, nguyện vọng của cháu K và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn anh Phạm Văn L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này theo quy định Điều 82, Điều 83 luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp anh Phạm Văn L về nước sinh sống có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị S, ông T, bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7]. Về tài sản, công nợ: Do chị S, ông T, bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị Nông Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về quyền kháng cáo: Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự anh L, chị S đang lao động tại nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, ông T, bà N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam, có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị S.

  1. Về hôn nhân: Chị Nông Thị S được ly hôn anh Phạm Văn L.
  2. Về con chung: Giao cháu Phạm Duy K, sinh ngày 24/02/2014 cho chị Nông Thị S nuôi dưỡng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Phạm Duy K cho ông Phạm Hồng T, bà Lưu Thị N nuôi dưỡng cho đến khi chị S về nước sinh sống. Anh Phạm Văn L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Nông Thị S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001245 ngày 11/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nông Thị S đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo bản án:
  5. Anh Phạm Văn L, chị Nông Thị S có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Ông Phạm Hồng T, bà Lưu Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử TAND;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu THCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 235/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 235/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị S và anh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger