|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 253/2024/DS-ST Ngày: 08 – 8 - 2024 V/v Đòi tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn – Bà Hồ Thị Kim Liên
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 333/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp Đòi tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 434/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 435/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1964. Nơi cư trú: số A, đường Đ, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0913.296.xxx. có mặt
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1984; vắng mặt
- Bà Phạm Thị Bé H, sinh năm 1956. Vắng mặt
Nơi cư trú: số B, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0912.534.xxx – 0942.833.992
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Đỗ Thị L trình bày:
Bà Nguyễn Thị Kim A có nợ bà Đỗ Thị L số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), sau đó bà Phạm Thị Bé H là mẹ ruột của bà Kim A có cam kết trả nợ thay bà Kim A, trả dần 6.000.000đ/tháng, bắt đầu trả từ 01/9/2023, có viết giấy cam kết ngày 01/8/2023. Tuy nhiên, từ đó cho đến nay bà Kim A và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả tiền dù bà L đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu.
Nay bà L khởi kiện yêu cầu bà Kim A và bà H cùng có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm: giải quyết theo quy định pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim A, bà Phạm Thị Bé H vắng mặt không tham gia phiên họp và không gửi tự khai trình bày ý kiến do đó không ghi nhận được ý kiến của của bà Nguyễn Thị Kim A, bà Phạm Thị Bé H.
Tại phiên toà:
- Nguyên đơn trình bày: Bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Kim A, bà Bé H cùng có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), không yêu cầu tiền lãi và bà xác định đây không phải là hợp đồng vay tài sản.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không tham gia phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc bà Kim A cùng có nghĩa vụ trả nợ cho bà L; chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc bà Bé H có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Đỗ Thị L khởi kiện đòi bà Kim A và bà Bé H trả cho bà số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), không yêu cầu tiền lãi. Đồng thời, bà L xác định số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) này không phải phát sinh từ hợp đồng vay tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật là “Đòi tài sản” theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Đỗ Thị L khởi kiện về Đòi tài sản đối với bà Nguyễn Thị Kim A, bà Phạm Thị Bé H có địa chỉ cư trú tại thành phố L nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là phù hợp với qui định pháp luật tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Toà án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng như thông báo kết quả phiên họp cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để bà Kim A và bà Bé H thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ của nguyên đơn. Tuy nhiên bị đơn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như bị đơn tự từ bỏ quyền lợi cũng như không bác bỏ yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ để giải quyết vụ án.
[2.2] Hội đồng xét xử căn cứ vào giấy nhận nợ ngày 01/8/2023 có chữ ký, dấu vân tay của bà Bé H với nội dung bà Bé H có trách nhiệm trả cho bà L số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) với phương thức 6.000.000 đồng/tháng, bắt đầu từ ngày 01/9/2023. Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định bà Bé H đã phát sinh nghĩa vụ trả tiền cho bà L theo quy định tại Điều 275 và Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015. Nay bà Bé H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 166, Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc bà Bé H có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng)
[2.4] Về yêu cầu đối với bà Kim A, xét thấy ngoài giấy nhận nợ thì bà L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh nghĩa vụ trả tiền của bà Kim A và không có sự thừa nhận của bà Kim A. Đồng thời, theo giấy nhận nợ và lời trình bày của bà L, cho thấy nghĩa vụ trả tiền của bà Kim A đã chuyển giao sang cho bà B Hai theo quy định tại Điều 370 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, không có cơ sở để buộc bà Kim A cùng có nghĩa vụ trả tiền cho bà L.
[2.5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L có đơn xin miễn tạm ứng án phí và án phí, hoàn trả cho bà L tạm ứng án phí đã nộp. Bà Bé H đã trên 60 tuổi nhưng bà không có đơn xin miễn án phí do đó bà Bé H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Kim A không phải chịu án phí
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ vào Điều 166, Điều 275, Điều 280, Điều 351, Điều 370 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị L về nghĩa vụ liên đới trả tiền của bà Nguyễn Thị Kim A.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị L. Buộc bà Phạm Thị Bé H có nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị L số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Bé H phải chịu 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Đỗ Thị L số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002152 ngày 30/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Cẩm Hường |
Bản án số 253/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về đòi tài sản
- Số bản án: 253/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
