|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 253/2024/DS-PT Ngày: 06/6/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Vũ
Bà Nguyễn Thanh Minh Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 143/2024/TLPT-DS, ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 210/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Đinh Hồng Q, sinh năm 1979. Cư trú tại: Số H, hẻm E, đường Cách mạng tháng tám, Khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984. Cư trú tại: Số G, đường P, Khu phố A, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 23-8-2023); có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1968. Cư trú tại: Số G, đường Y, Khu phố B, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Chị Võ Hướng D, sinh năm 1993. Cư trú tại: Khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 24-01-2024); vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Văn T2 - Luật sư của Công ty TNHH MTV B thuộc Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc T1 – là bị đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đinh Hồng Q và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Vào ngày 01/06/2022, ông Q có ký Hợp đồng đặt cọc với bà Nguyễn Thị Ngọc T1 nhằm mục đích giao kết hợp đồng chuyển nhượng phần đất có diện tích 482,7 m², thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Khu phố E, Phường C, TP T, Tỉnh Tây Ninh theo Giấy CNQSDĐ AO 473399 do UBND thị xã T (nay là thành phố T) cấp ngày 02/12/2009 cho bà Nguyễn Thị Ngọc T1. Hợp đồng đặt cọc được công chứng tại Phòng Công chứng Nguyễn Thị Đ, số vào số công chứng 5214 quyển số 26/2022 TP/CC - SCC/HĐGD. Theo nội dung Hợp đồng đặt cọc, bà T1 cam kết với ông Q “Phần đất nêu trên không có tranh chấp, không nằm trong quy hoạch, chưa nhận tiền đặt cọc hay hứa bán cho bất kỳ ai, không bị kê biên để đàm bảo thi hành án nếu sai trái tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật và chịu phạt theo Điều 3 khoản 3.3 của Hợp đồng đặt cọc”. Do tin tưởng bà T1 nên ông Q không tìm hiểu thông tin quy hoạch của thửa đất, sau khi đọc xong Hợp đồng với những cam kết trên của bà T1, ông Q đã an tâm và đồng ý mua thửa đất trên với giá hai bên thỏa thuận là 12.550.000.000 đồng. Ông Q đã đặt cọc cho bà T1 1.000.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ thanh toán sau 10 ngày, thanh toán vào ngày 10/06/2022. Sau đó ông Q có ra Phòng Quản lý Đô Thị thành phố T để hỏi thủ tục xin giấy phép xây dựng, ngày 06/06/2022 thì nhận được thông tin trả lời bằng công văn số 634/PQLĐT về việc cung cấp thông tin quy hoạch thì thửa đất trên thuộc Quy hoạch là đất công cộng cấp đô thị. Từ ngày 06/06/2022 cho đến ngày 10/06/2022, ông Q đã thiện chí liên hệ với bà T1 đề nghị huỷ bỏ Hợp đồng đặt cọc và lấy lại số tiền đã đặt cọc nhưng bà T1 không đồng ý nên ông Q nộp đơn khởi kiện bà T1 và không đến Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Đ để ký hợp đồng chuyển nhượng. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng đặt cọc ngày 01/06/2022, yêu cầu bà T1 trả lại tiền cọc cho ông Q là 1.000.000.000 đồng, tiền phạt cọc là 2.000.000.000 đồng, tổng cộng là 3.000.000.000 đồng. Tại phiên toà, ông Q (do anh Nguyễn Văn T là người đại diện theo uỷ quyền) rút lại yêu cầu khởi kiện đối
với bà T1 về việc phạt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng. Ngoài ra, ông Q không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1 và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn chị Võ Hướng D trình bày:
Căn cứ theo Hợp đồng đặt cọc được ký kết ngày 01/6/2022, bà T1 đã nhận của ông Quân s tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng, hai bên thống nhất sau 10 ngày kể từ ngày đặt cọc (tức ngày 10/6/2022) sẽ đến Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Đ để ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thanh toán phần tiền chuyển nhượng còn lại.
Theo đó, vào ngày 10/6/2022, bà T1 đã có mặt tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Đ đúng theo thỏa thuận nêu trên nhưng ông Q lại vắng mặt không lý do, cố tình né tránh để không thực hiện nghĩa vụ như trong hợp đồng đặt cọc mà không có bất kỳ đề xuất thỏa thuận nào khác. Đối với sự kiện này bà T1 có yêu cầu Văn phòng thừa phát thành phố T lập Vi bằng số 23/2022/VB-TPL ngày 15/6/2022 để ghi nhận việc ông Q không có mặt tại Văn phòng công chứng như thỏa thuận. Điều này cho thấy ông Q không có thiện chí tiếp tục ký kết hợp đồng chuyển nhượng và đã vi phạm hợp đồng đặt cọc mà các bên đã ký kết nên căn cứ theo nội dung trong hợp đồng đặt cọc thì ông Q bị mất số tiền đã đặt cọc cho bà T1 vì mục đích của việc đặt cọc là nhằm giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Việc ông Q cho rằng sau khi ký Hợp đồng đặt cọc thì phát hiện phần đất chuyển nhượng nằm trong quy hoạch là vi phạm thỏa thuận nên yêu cầu bà T1 phải trả lại tiền cọc và phạt cọc gấp 02 lần thì bà T1 có ý kiến như sau: Căn cứ Hợp đồng đặt cọc thì hai bên có thỏa thuận nội dung: “Tính đến thời điểm giao kết hợp đồng...cam kết đất trên không có tranh chấp, không nằm trong quy hoạch; chưa nhận tiền cọc...; không bị kê biên...”, đây là thỏa thuận nhằm mục đích xác định phần đất nêu trên đủ điều kiện để chuyển nhượng, không bị hạn chế hay bị cấm chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, đối với nội dung cam kết “đất trên không nằm trong quy hoạch” cũng nhằm mục đích xác định đất chuyển nhượng không thuộc đối tượng đất quy hoạch bị cấm chuyển nhượng và không bị hạn chế quyền sử dụng theo quy định tại khoản 7 Điều 49 Luật Đất đai năm 2013. Trước khi ký hợp đồng đặt cọc, bà T1 không tìm hiểu thông tin quy hoạch của thửa đất, đến khi ký hợp đồng đặt cọc bà T1 vẫn xác định đất của bà không nằm trong quy hoạch vì phần đất của bà T1 không thuộc trường hợp không được phép chuyển nhượng cũng như không có bất kì thông báo hay quyết định thu hồi đất từ cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc sử dụng đất quy hoạch. Việc bà T1 ký Hợp đồng đặt cọc với ông Q là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật nên bà T1 không đồng ý huỷ hợp đồng đặt cọc ngày 01/6/2022 và trả lại cho ông Quân
số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng. Bà T1 đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, bà T1 không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
Tại bản án số 41/2024/DS-ST ngày 02/4/2024 của TAND thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Hồng Q đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
- Hủy Hợp đồng đặt cọc công chứng số 5214 quyền số 26/2022 TP/CC – SCC/HĐGD ngày 01/6/2022 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Đ giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T1 và ông Đinh Hồng Q.
- - Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trả lại cho ông Đinh Hồng Q số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng.
- - Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Hồng Q đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T1 về việc phạt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng, ông Q được quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/4/2024 bà Nguyễn Thị Ngọc T1 kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Phạm Văn T2 trình bày: Tại thời điểm chuyển nhượng bà T1 đã cung cấp đầy đủ các giấy tờ đất để chứng minh chủ sử dụng đất. Phần đất tranh chấp của bà T1 không nằm trong vị trí các dự án phải thu hồi năm 2023 nên chủ sử dụng đất được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Luật đất đai. Bà T1 cam kết đất không quy hoạch có nghĩa là không bị hạn chế hay cấm chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, ông Q không đến Văn phòng công chứng để tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng là vi phạm thỏa thuận, bà T1 đã lập vi bằng làm chứng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà T1 về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ngọc T1 là chị Võ Hướng D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị D là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
-
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T1 thấy rằng:
Hợp đồng đặt cọc ngày 01/06/2022, công chứng số 5214 quyền số 26/2022 TP/CC – SCC/HĐGD tại Văn phòng C được ông Q và bà T1 xác lập nhằm mục đích giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 482,7 m², thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Khu phố E, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Giá chuyển nhượng thửa đất trên là 12.550.000.000 đồng, bà T1 đã nhận của ông Quân s tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng, hai bên thoả thuận đến ngày 10/6/2022 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thanh toán phần tiền còn lại là 11.550.000.000 đồng.
Theo Điều 5 của Hợp đồng đặt cọc nêu trên bà T1 cam kết với ông Q “Phần đất nêu trên không có tranh chấp, không nằm trong quy hoạch, chưa nhận tiền đặt cọc hay hứa bán cho bất kỳ ai, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án nếu sai trái tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật và chịu phạt theo Điều 3 khoản 3.3 của Hợp đồng đặt cọc”. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc, ông Q có ra Phòng Quản lý Đô Thị thành phố T để hỏi thủ tục xin giấy phép xây dựng, ngày 06/06/2022 thì nhận được thông tin trả lời bằng Công văn số 634/PQLĐT v/v cung cấp thông tin quy hoạch thì thửa đất trên thuộc Quy hoạch là đất công cộng cấp Đô thị nên ông Q yêu cầu hủy bỏ hợp đồng đặt cọc do bà T1 gian dối, yêu cầu bà T1 trả lại tiền cọc 1.000.000.000 đồng, tiền phạt cọc 2.000.000.000 đồng, tổng cộng là 3.000.000.000 đồng.
Bà T1 xác định nội dung thoả thuận tại Điều 5 của hợp đồng đặt cọc là thỏa thuận nhằm mục đích xác định phần đất nêu trên đủ điều kiện để chuyển nhượng,
không bị hạn chế hay bị cấm chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, cụ thể đối với nội dung cam kết “đất trên không nằm trong quy hoạch” cũng nhằm mục đích xác định đất chuyển nhượng không thuộc đối tượng đất quy hoạch bị cấm chuyển nhượng và không bị hạn chế quyền sử dụng theo quy định tại Khoản 7 Điều 49 Luật Đất đai năm 2013.
Tại Công văn số 2035/UBND ngày 29/12/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T phúc đáp như sau: Căn cứ Quyết định số 3741/QĐ – UBND ngày 30/12/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021 – 2030 của thành phố T, thửa đất số 88, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại Khu phố E, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh của bà Nguyễn Thị Ngọc T1 được quy hoạch đất y tế. Căn cứ Quyết định số 204/QĐ – UBND ngày 03/02/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của thành phố T, vị trí thửa đất số 88, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại khu phố E, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh không nằm trong vị trí các dự án phải thu hồi đất trong năm 2023. Bà Nguyễn Thị Ngọc T1 được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Tại khoản 2 Điều 49 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật”.
Tại Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 quy định “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật”.
Do đó, mặc dù thửa đất số 88, tờ bản đồ số 3 nêu trên nằm trong quy hoạch nhưng hiện nay không nằm trong vị trí các dự án phải thu hồi đất năm 2023 nên chủ sử dụng đất được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Đất đai.
Việc ông Q cho rằng đất nằm trong quy hoạch nên không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng, ngày 10/6/2022 ông Q không đến Văn phòng công chứng, sự việc được văn phòng thừa phát lại thành phố T lập vi bằng là vi phạm thỏa thuận tại mục 2 Điều 5 của hợp đồng đặt cọc “Thực hiện đúng và đầy đủ các thoả thuận...”.
Cấp sơ thẩm cho rằng, khi giao kết hợp đồng đặt cọc, bà T1 đã không cung cấp chính xác, đầy đủ thông tin về diện tích đất chuyển nhượng cho ông Q là vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 12 của Luật Đất đai; vi phạm cam kết tại Điều 5 của hợp đồng đặt cọc “cam kết đất không nằm trong quy hoạch”, do đó, ông Q và bà T1 đều có lỗi dẫn đến hợp đồng đặt cọc không thực hiện được, bà T1 có nghĩa
vụ trả lại cho ông Quân số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng là không chính xác. Bởi vì trước khi ký hợp đồng đặt cọc bà T1 đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q, ông Q có quyền tìm hiểu kỹ về phần đất mình nhận chuyển nhượng, để quyết định có nhận chuyển nhượng hay không, mà ngược lại sau khi ký hợp đồng đặt cọc ông Q lại đi tìm hiểu về phần đất và cho rằng đất quy hoạch nên không tiếp tục thực hiện hợp đồng, đồng thời khởi kiện bà T1 khi chưa đến ngày giao kết hợp đồng và khi đến ngày giao kết hợp đồng lại không đến theo thuận là vi phạm mục 2 Điều 5 của Hợp đồng. Do đó yêu cầu khởi kiện của ông Q không có căn cứ chấp nhận.
- Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc T1. Sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q.
-
Do đó án phí sơ thẩm được tính lại như sau.
Ông Đinh Hồng Q phải chịu 42.300.000 đồng.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà T1 được chấp nhận nên bà T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc T1.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 41/2024/DS-ST ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào Điều 328 của Bộ luật Dân sự; các Điều 12, 49, 167 của Luật Đất đai; các Điều 217, 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Hồng Q đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng.
- - Không chấp nhận yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc công chứng số 5214 quyền số 26/2022 TP/CC – SCC/HĐGD ngày 01/6/2022 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Đ giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T1 và ông Đinh Hồng Q.
- - Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Hồng Q đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T1 về việc phạt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng, ông Q được quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đinh Hồng Q phải chịu 42.300.000 đồng. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông Q đã nộp 46.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0018813 ngày 06/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh, hoàn trả cho ông Q 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng).
-
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc T1 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0002676 ngày 16/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Dương Thúy Hằng |
Bản án số 253/2024/DS-PT ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 253/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
