TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 253/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19/3/2025 V/v Tranh chấp ly hôn. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Xuân Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Phước Trinh
- Bà Phạm Thị Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bế Thị An – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà:
Ông Đào Văn Tiền – Kiểm sát viên nhân dân
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi (số G đường Tỉnh lộ 8, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1986; (có mặt)
Địa chỉ: Số C, đường H, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; (có mặt).
Địa chỉ: Số C, đường H, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2006, quyển 01 cấp ngày 21/02/2006 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa).
Thời gian đầu vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc, yêu thương, quan tâm lo lắng cho nhau, cuộc sống gia đình lúc đó khá đầm ấm và hạnh phúc. Thời gian gần đây, cuộc sống hôn nhân bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do ông Hoàng gia T1, thường xuyên chửi bới đánh đập bà T nhiều lần nhưng thương con nên bà T. Ông H càng ngày càng tệ hơn, không lo làm ăn, chỉ nhậu nhẹt đánh bạc, đánh đập bà T thường xuyên. Bà T cảm thấy cuộc sống hôn nhân không còn được như trước. Bà T nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn cho bà và ông H để rõ ràng về mặt pháp lý.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 20/8/2008 và Nguyễn Văn S, sinh ngày 09/4/2012. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung đồng thời không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.
Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.
Tại phiên tòa bà T vẫn giữ nguyên ý kiến như những lần hòa giải, bà xác định không còn tình cảm với ông H, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà để bà và các con sớm ổn định cuộc sống mới.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn H Trình bày:
Ông Nguyễn Văn H xác nhận ông và bà T chung sống, có đăng ký kết hôn đúng như bà T đã trình bày.
Ông H xác định vợ chồng có mâu thuẫn, trước tết ông có đánh đập bà T, hiện tại hai vợ chồng đã ly thân. Ông không đồng ý ly hôn vì ông còn thương vợ, thương con.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 20/8/2008 và Nguyễn Văn S, sinh ngày 09/4/2012. Ông H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 20/8/2008 và Nguyễn Văn S, sinh ngày 09/4/2012. Ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.
Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.
* Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi về việc giải quyết vụ án như sau:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định của khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh khởi K yêu cầu giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Giữa hai bên có phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn. Vì vậy, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về con chung, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, ý kiến của trẻ S, trẻ N có nguyện vọng ở với bà T. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 56, Khoản 2 Điều 81 chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng của bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật:
Bà Lê Thị Thanh khởi K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với ông Nguyễn Văn H. Tại thời điểm bà T khởi kiện thì ông Nguyễn Văn H đang cư trú tại địa chỉ: Số C, Đường H, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị Thanh khởi K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với Nguyễn Văn H với lý do vợ chồng thường xuyên phát sinh mẫu thuẫn do khác biệt về quan điểm sống và nhiều vấn đề khác trong cuộc sống khiến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, ông H thường xuyên đánh đập bà T và con, không chăm lo làm ăn, chỉ nhậu nhẹt, đánh bạc.
Hội đồng xét xử xét thấy, giữa bà T và ông H có phát sinh mâu thuẫn trong một thời gian dài, đã được bà T, ông H thừa nhận. Bà T xác định không còn tình cảm với ông H, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông H với lý do giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được là có cơ sở cần được chấp nhận.
Hội đồng xét xử căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[2.2]. Về yêu cầu nuôi con, cấp dưỡng nuôi con:
Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H có 02 con chung có tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 20/8/2008 và Nguyễn Văn S, sinh ngày 09/4/2012. Xét thấy nguyện vọng của trẻ N và trẻ S muốn được sống chung với bà T, ngoài ra Hội đồng xét xử xét thấy ông H có xu hướng bạo lực đánh đập các con một cách tàn nhẫn, để tránh trường hợp ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh hoạt, học tập và phù hợp nguyện vọng của trẻ N và trẻ S. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận việc giao trẻ N và trẻ S cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Tại đơn khởi kiện bà T yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.500.000 đồng/tháng. Tại phiên tòa bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà T.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu toà án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu toà án giải quyết, Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Xét ý kiến của bị đơn:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông H thừa nhận giữa hai vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, và ông có đánh đập vợ con. Tuy nhiên, ông H còn yêu vợ, thương con nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
Xét thấy, hai bên có phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, bà T xác định không còn tình cảm với ông H, không thể chung sống như vợ chồng, việc sống chung không mang lại hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông H không được bà T chấp nhận để đoàn tụ vợ chồng. Do đó, không có cơ chấp nhận yêu cầu của ông H.
[3.2]. Về con chung:
Như Hội đồng xét xử đã phân tích tại mục [2.2]. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con của ông H.
[4].Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:
Hội đồng xét xử xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có cơ sở cần được chấp nhận.
[5]. Về án phí:
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn là bà Lê Thị Thanh P chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T
[1.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2006, quyển 01 cấp ngày 21/02/2006 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp không còn giá trị pháp lý).
[1.2]. Về con chung: Bà Lê Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 20/8/2008 và Nguyễn Văn S, sinh ngày 09/4/2012. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Văn H được quyền thăm nom con, không ai được cản trở ông H thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà T.
[1.3]. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[1.4]. Về nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Về án phí:
Bà Lê Thị Thanh P chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0063407 ngày 09/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Bà Lê Thị T đã nộp đủ tiền án phí.
Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[3]. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
[4]. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Diệp Xuân Hà |
Bản án số 253/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 253/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị Th và ông Nguyễn Văn H tranh chấp ly hôn
