TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 253/2025/DS-PT
Ngày: 25-3-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Ngọc Hương
Bà Nguyễn Thị Kim Cương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1081/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 4537/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 657/QĐXXPT-DS ngày 17/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: 123/14 N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Trương Duy N, sinh năm 1998 – đại diện theo ủy quyền. (có mặt)
Địa chỉ: Lầu C, tòa nhà A X, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 28/3/2024)
- Bị đơn: Ông Khuất Bá N1, sinh năm 1977 (có mặt)
Thường trú: 15/37/8 đường số F, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: số D L, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo Bản án sơ thẩm:
- Nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời trình bày của đại diện hợp pháp của nguyên đơn trong quá trình tố tụng tại Toà án và tại phiên tòa:
Ngày 05/4/2021, ông Nguyễn Tiến Đ và ông Khuất Bá N1 có ký “Giấy vay tiền”. Theo nội dung giấy vay tiền: ông Đ cho ông N1 vay số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng), mức lãi suất cho vay là 01%/tháng. Thời điểm thanh toán lãi: Ngày 05 hằng tháng. Thời gian hoàn trả 01 năm kể từ ngày ký Giấy vay tiền.
Ngoài ra, các bên cam kết: ông N1 cam kết trả lãi và nợ đúng hẹn.
Nếu ông N1 mất khả năng thanh toán thì người thân bên ông N1 sẽ gánh nợ thay cho bên ông N1 và ông N1 sẽ bị phạt thêm lãi suất.
Trong thời hạn vay nợ là 01 năm, ông N1 không trả cho ông Đ bất cứ khoản tiền nào, bao gồm nợ gốc và lãi suất vay. Vì vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Khuất Bá N1 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Tiến Đ số tiền gốc 600.000.000 đồng và tiền lãi suất được tính như sau. Cụ thể:
- Lãi suất trong hạn từ ngày 05/4/2021 đến ngày 05/4/2022: 600.000.000 đồng x 01%/tháng x 12 tháng =72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng).
- Lãi trên nợ lãi chưa trả (tạm tính) từ ngày 06/4/2022 tạm tính đến ngày 23/9/2024: 72.000.000 đồng x 10%/năm x 890 ngày là 17.753.424 đồng.
- Tiền lãi quá hạn trên số nợ gốc chưa trả tạm tính từ ngày 06/4/2022 đến ngày 23/9/2024: 600.000.000 đồng x 150% x 12%/năm x 900 ngày là 266.301.370 đồng.
Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 956.054.794 đồng, ông Khuất Bá N1 phải trả cho ông Nguyễn Tiến Đ
Đồng thời yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi suất tính từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thanh toán xong hết nợ theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận tại giấy vay tiền ngày 05/4/2021.
- Bị đơn: Ông Khuất Bá N1 trình bày tại bản tự khai ngày 10/9/2024:
Ông và ông Nguyễn Tiến Đ đã quen biết nhau từ trước, khi ông cần vốn để đầu tư làm ăn có nhờ ông Đ giới thiệu vay giúp tiền của ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1971, địa chỉ thường trú: T, N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa với số tiền là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu) vào ngày 05/4/2021, thỏa thuận lãi miệng là 3%/tháng/số tiền vay; Giấy vay này do chính tay ông Nguyễn Tiến Đ (là nguyên đơn trong vụ án) viết ra.
Qua trình vay ông đã trả lãi mỗi tháng 15.000.000 đồng (mười lăm triệu) cho ông Nguyễn Tiến Đ được 06 tháng tổng cộng đã trả lãi được 90.000.000 đồng (chín mươi triệu) thì ngưng không trả lãi được nữa do dịch bệnh covid 19 phải giãn cách xã hội theo chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ năm 2021. Việc trả tiền
2
lãi do quen biết ông Đ nên trả tiền mặt mà không ký nhận giấy tờ. Rồi thời gian sau ông Đ đến nhận tiền lãi ngày 100.000 đồng lúc ông mở quán bán hàng ăn, có lúc chuyển khoản, có lúc đến lấy tiền mặt.
Đến ngày 05/4/2022, do ông buôn bán gặp khó khăn không có khả năng trả lãi cho ông Nguyễn Tiến Đ nên ông Đ yêu cầu ông tiếp tục ký vào giấy vay tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu) tức cộng tiền lãi của khoảng 06 tháng ông không trả lãi, thành giấy vay tiền mới, tiền gốc là 600.000.000 đồng.
Đối với vay tiền trước là 500.000.000 đồng ngày 05/4/2021 ghi Bên cho vay là ông Nguyễn Thanh D, đến ngày 05/4/2022 ông Đ viết lại giấy vay mới có cộng thêm 100 triệu tiền lãi thành giấy vay tiền 600.000.000 đồng và ghi tên bên cho vay là ông Nguyễn Tiến Đ. Tuy nhiên ông không thu hồi giấy cũ 500.000.000 đồng mà ông Đ đang nắm giữ.
Như vậy, hiện nay đang tồn tại 02 Giấy vay tiền đều do ông Đ viết, ông ký nhưng số tiền vay chỉ có 500.000.000 đồng và ông đã trả tiền lãi 3% mỗi tháng trên số tiền này được 06 tháng; còn giấy vay 600.000.000 đồng ngày 05/4/2021 thực chất là viết ngày 05/4/2022 (sau đó 01 năm) sau khi hết giãn cách xã hội do dịch bệnh, ông gặp nhiều khó khăn, buôn bán ế ẩm nên chưa trả tiền được.
Ông Đ giữ giấy vay cũ 500 triệu đồng chưa được thu hồi gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông (giấy vay tiền này do ông Đức G, nay ông chỉ có bản chụp ảnh gốc trong điện thoại). Nay ông Đ dùng giấy vay viết sau số tiền 600 triệu đồng ngày 05/4/2021 thực chất là ngày 05/4/2022 để kiện ông và tính tiền lãi là không đúng bản chất sự việc, quá khả năng của ông và không đúng pháp luật.
Do đó đề nghị buộc ông Nguyễn Tiến Đ phải xuất trình bản chính Giấy vay tiền 500.000.000 đồng do ông ký ngày 05/4/2021, phía cuối trang có ghi chữ của tôi “Tôi đã đọc và đồng ý” và giao nộp lại cho quý Tòa để lưu giữ trong hồ sơ vụ án này.
- Yêu cầu Tòa án tính lại tiền lãi ông đã trả cho ông Đ trong 06 tháng là 90.000.000 đồng; tính lại tiền lãi 100 triệu trong Giấy vay 600.000.000 đồng.
- Triệu tập người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1971, địa chỉ thường trú: T, N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa là Bên cho vay trong Giấy vay tiền 500 triệu (ký hiệu số 1) để làm rõ quá trình giao dịch số tiền giữa tôi và ông Đ, vì cả 02 giấy vay đều do ông Nguyễn Tiến Đ cùng một người viết
- Triệu tập ông Nguyễn Tiến Đ, ông Nguyễn Thanh D tham gia phiên tòa làm rõ các Giấy vay tiền cùng ngày tháng năm, cùng người viết, nhưng khác số tiền vay.
- Đề nghị quá Tòa tổ chức công khai những tài liệu chứng cứ ông mới cung cấp sau khi được tiếp cận tài liệu trong những ngày gần đây và tạo điều kiện để ông được xác định lại số tiền vay và các giấy vay giữa ông Nguyễn Thanh D và ông Nguyễn Tiến Đ.
3
- Sau khi quý Tòa xác định sự thật của chủ số tiền vay thực sự ông xin trả dần khoản nợ do Tòa án quyết định mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu) cho đến khi hết nợ vì thực sự ông gặp rất nhiều khó khăn, không có khả năng trả nợ 01 lần.
Do các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau nên vụ án được đưa ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 4537/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Khuất Bá N1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Tiến Đ số tiền nợ gốc 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi suất 356.054.794 đồng (ba trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng), tổng cộng 956.054.794 đồng (chín trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: 40.681.644 đồng (bốn mươi triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng), bị đơn ông Khuất Bá N1 phải nộp.
Kể từ ngày 24/9/2024 nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi của số tiền nợ chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại giấy vay tiền ngày 05/4/2021, mức lãi suất 1%/tháng tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Hoàn tiền tạm ứng án phí 16.300.000 đồng (mười sáu triệu ba trăm nghìn đồng) cho nguyên đơn theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 26512 ngày 23/4/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về thời hạn kháng cáo và thủ tục thi hành án.
Ngày 24/10/2024, bị đơn ông Khuất Bá N1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 4537/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung kháng cáo: Bản án sơ thẩm chưa đánh giá được hết những tài liệu chứng cứ cũng như các tình tiết tại hồ sơ vụ án liên quan đến vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông N1. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết, xem xét lại bản án sơ thẩm.
*Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo, các đương sự không hòa giải được với nhau.
- Bị đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án, đánh giá chứng cứ toàn diện để có quyết định phù hợp, đúng đắn. Ông N1 kháng cáo đồng ý trả số nợ 600.000.000 cho ông Đ nhưng với yêu cầu buộc ông Đ phải trả lại giấy nợ ngày 05/4/2021 giữa ông N1 và ông Nguyễn Thanh D.
- Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Người đại diện của nguyên đơn không thừa nhận tờ giấy nợ ngày 05/4/2021 lập giữa ông N1 và
4
ông D là có liên quan đến việc vay nợ giữa nguyên đơn và bị đơn trong vụ án này. Mặt khác, phía nguyên đơn ông Đ cũng không có giữ giấy nợ gì của ông D và ông N1, bác bỏ lời khai của ông N1. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ y bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
- Về tố tụng: Giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự được đảm bảo để thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo qui định của pháp luật.
- Về nội dung: Không có cơ sở xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án số 4537/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đơn kháng cáo của bị đơn ông Khuất Bá N1 được thực hiện đảm bảo đúng quy định về thời hạn và thủ tục kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Thẩm quyền giải quyết vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng. Tư cách tham gia tố tụng của các đương sự được đưa vào đúng, đầy đủ.
- Việc thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo: Sau khi xem xét yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo đối chiếu toàn bộ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày được thẩm tra công khai tại phiên tòa phúc thẩm, đối chất của các đương sự:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Khuất Bá N1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị xem xét lại các chứng cứ mà bị đơn đã nộp, vì ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn.
Bị đơn ông N1 đồng ý trả số nợ 600.000.000 đồng cho nguyên đơn ông Đ, nhưng phía ông Đ phải trả lại cho ông tờ giấy nợ viết ngày 05/4/2021 lập giữa ông N1 và ông Nguyễn Thanh D, bởi vì ông N1 lập đến 02(hai) giấy nợ, nhưng thực chất chỉ vay có 500.000.000 đồng. Do ông không trả được nợ nên một năm sau vào ngày 05/4/2022 ông Đ yêu cầu viết tờ giấy nợ mới lập giữa ông Đ và ông N1. Do đó, Tòa án phải thu hồi giấy nợ trước đó lập với ông D để đảm bảo quyền lợi của ông, thì ông mới trả nợ cho ông Đ.
[2.2] Phía nguyên đơn không đồng ý lời trình bày này của bị đơn, bên ông Đ không thừa nhận chứng cứ là tờ giấy bản photo (không phải bản chính viết tay) “Giấy cho vay tiền” lập ngày 05/4/2021 giữa ông N1 và ông Nguyễn Thanh D mà
5
phía ông N1 xuất trình. Người đại diện của nguyên đơn cho rằng, bên nguyên đơn khởi kiện là giấy nợ ngày 05/4/2021 được lập giữa ông Đ và ông N1, chứ không phải được lập một năm sau như ông N1 trình bày. Đồng thời ông Đ cũng không giữ giấy nợ gì của ông N1 với ông D và cũng không liên quan đến số nợ đó. Phía ông Đ cũng yêu cầu ông N1 xuất trình bất kỳ thông tin nào về giấy nợ hoặc số nợ có liên quan của cả ba người hoặc với ông D để cho Tòa án xem xét. Bởi vì thông tin tờ giấy mà ông N1 xuất trình là bản phô tô, không có giá trị và dựa vào giấy này để ông N1 chối bỏ trách nhiệm trả nợ cho ông Đ là không đúng. Bác bỏ lời khai và chứng cứ này của bị đơn.
[2.3] Xét thấy: Tờ giấy “Giấy cho vay tiền” ghi ngày 05/4/2021 giữa ông N1 và ông Nguyễn Thanh D với số tiền vay là 500.000.000 đồng ông N1 xuất trình là bản photo, chỉ có chữ ký người vay là Khuất Bá N1, không có chữ ký ông D và không được bên ông Đ thừa nhận. Ông Đ cũng không thừa nhận có giữ bản chính để trả cho ông N1 và cũng không có liên quan gì đến tờ giấy nợ trên. Ông Đ đề nghị bên ông N1 xuất trình bản chính để làm rõ.
- Ông N1 kháng cáo thừa nhận và đồng ý trả toàn bộ số tiền nợ cho ông Đ nhưng với yêu cầu phía ông Đ trả lại giấy nợ (bản chính) lập ngày 05/4/2021 lập giữa ông N1 và ông Nguyễn Thanh D như nêu trên, nhưng ông N1 không đưa ra được chứng cứ nào thể hiện mối liên quan giữa 03 người là ông Đ, ông D, ông N1 với nhau và cùng phát sinh từ một số nợ để Tòa án xem xét, đồng thời ông Đ cũng không biết về giấy nợ giữa ông N1 và ông D và không có giữ giấy nợ này để trả cho ông N1. Ngoài ra, ông Đ không thừa nhận số tiền mà ông đang khởi kiện là giấy nợ từ số nợ của ông D.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài lời trình bày, ông N1 không có bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, không có cơ sở để xem xét chấp nhận. Nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đồng quan điểm với Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Khuất Bá N1.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 4537/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Khuất Bá N1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Tiến Đ số tiền nợ gốc 600.000.000
6
đồng (sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi suất 356.054.794 đồng (ba trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng), tổng cộng 956.054.794 đồng (chín trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng).
Kể từ ngày 24/9/2024 nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi của số tiền nợ chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại giấy vay tiền ngày 05/4/2021, mức lãi suất 1%/tháng tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Án phí dân sự sơ thẩm: 40.681.644 đồng (bốn mươi triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng), bị đơn ông Khuất Bá N1 phải nộp.
- Án phí phúc thẩm: là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bị đơn ông Khuất Bá N1 phải chịu, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0044889 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Hoàn tiền tạm ứng án phí 16.300.000 đồng (mười sáu triệu ba trăm nghìn đồng) cho nguyên đơn theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 26512 ngày 23/4/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim |
7
8
Bản án số 253/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 253/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Tiến Đ BĐ: Khuất Bá N Quyết định: - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Khuất Bá N. - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 4537/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Khuất Bá N có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Tiến Đ số tiền nợ gốc 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi suất 356.054.794 đồng (ba trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng), tổng cộng 956.054.794 đồng (chín trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng). Kể từ ngày 24/9/2024 nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi của số tiền nợ chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại giấy vay tiền ngày 05/4/2021, mức lãi suất 1%/tháng tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
