Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 253/2024/HSST

Ngày 19/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH,THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Lê Ngọc Lâm
  • 2/ Ông Lê Hữu Luân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lữ Phương Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 315/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 282/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thị T, tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh ngày 28/7/2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký HKTT: Nhà số đường Ngô Tất Tố, Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Nhà số 167/72/200B đường Ngô Tất Tố, Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 00/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Ngô Văn Nam (đã chết) và con bà Trần Thị Liên, sinh năm 1980; anh chị em: có 03 anh chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; có chồng là Nguyễn Công Thức (không có đăng ký kết hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022;

Tiền án: có 01 tiền án.

Ngày 18/4/2023, tại bản án số 100/2023/HS-PT, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm từ ngày 18/4/2023 về tội: “Trộm cắp tài sản”, đang trong thời gian chấp hành thời gian thử thách của án treo.

Tiền sự: không có.

Tạm giam từ ngày 05/9/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 05/09/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an Phường 22, quận Bình Thạnh kiểm tra hành chính Trần Thị T tại đầu hẻm 113/74 đường Võ Duy Ninh, Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm kiểm tra, Công an phát hiện T ném một miếng giấy trắng xuống đất, qua kiểm tra bên trong có một gói nylon chứa tinh thể, T khai tinh thể là ma túy đá mà T cất giấu đang đi giao cho khách mua (qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6849g, loại Methamphetamine) nên Công an Phường 22, quận Bình Thạnh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh, T khai nhận: T quen biết đối tượng tên Vinh ngoài xã hội (chưa rõ lai lịch) được khoảng 10 ngày, Vinh sử dụng số điện thoại 0876.068.xxx, T biết Vinh bán ma túy nhưng không biết chỗ ở và lai lịch của Vinh. Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 05/9/2024, Vinh gọi đến số điện thoại 0921.924.xxx của T để nhờ T đi giao 01 gói ma túy đá giá 1.200.000 đồng, sau khi giao ma túy xong Vinh sẽ cho T 100.000 đồng tiền công đi giao ma túy. Sau đó T đi xe ôm đến đầu hẻm 92 đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 21, quận Bình Thạnh gặp Vinh, Vinh đưa cho T một miếng giấy màu trắng bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy đá và nói T đi giao cho đối tượng tên Bé, sử dụng số điện thoại 0898.183.xxx ở đầu hẻm 113/74 đường Võ Duy Ninh, Phường 22, quận Bình Thạnh. Sau khi nhận ma túy từ Vinh, T đặt xe ôm của anh Huỳnh Huy Mười để chở đi. Khi anh Mười vừa chở T đến nơi, T xuống xe đi bộ đến trước hẻm 113/74 đường Võ Duy Ninh, Phường 22, quận Bình Thạnh thì bị Công an kiểm tra nên T vứt bỏ miếng giấy có gói nylon chứa ma túy đá xuống đường thì bị Công an phát hiện, bắt qua tang như đã nêu trên. Ngày 05/9/2024 là lần đầu tiên Vinh nhờ T đi giao ma túy cho đối tượng tên Bé, T chưa từng gặp, không quen biết Bé, chỉ biết Bé sử dụng số điện thoại 0898.183.xxx.

Kết luận giám định số 10425/KL-KTHS ngày 13/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Thị T và hình dấu Công an Phường 22, quận Bình Thạnh, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6849g, loại Methamphethamine.

Tại bản cáo trạng số 295/CT-VKS ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo

Trần Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hiện quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù và tổng hợp hình phạt với hình phạt 01 năm tù của Bản án 100/2023/HSPT ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Về xử lý vật chứng:

  • + Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy và một số vật chứng thu giữ của bị cáo không có giá trị sử dụng gồm: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu ở thể rắn, có khối lượng 1,6849g, loại Methamphetamine, thu giữ của Trần Thi T. Khối lượng còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định là 1,3508g; 01 miếng giấy màu trắng.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, là phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước;

Về hình phạt bổ sung và thu lợi bất chính: Bị cáo chưa có thu lợi bất chính, phạm tội trong hoàn cảnh khó khăn, chưa có công việc có thu nhập ổn định, có hai con còn nhỏ nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành

vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thị T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, cho thấy: Bị cáo Trần Thị T bị phát hiện bắt quả tang có hành vi tàng trữ 01 miếng giấy màu trắng bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy ở thể rắn T nhận của một đối tượng tên Vinh (chưa rõ lai lịch) đang trên đường đi giao cho khách là đối tượng tên Bé (chưa rõ lai lịch) ở trước hẻm 113/74 đường Võ Duy Ninh, Phường 22, quận Bình Thạnh để hưởng công là 100.000 đồng.

Như vậy, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của các nhân chứng, vật chứng là ma túy thu giữ của bị cáo, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết luận của tổ chức giám định kỹ thuật hình sự về chất ma tuý thu được của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Trần Thị T là người đã trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi đi giao ma túy cho đối tượng Vinh (chưa rõ lai lịch) nhằm mục đích để hưởng lợi thì bị bắt quả tang, số ma tuý thu giữ của bị cáo theo kết luận giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 1,6849 gam, loại Methamphethamine. Bị cáo Trần Thị T khai nhận đây là lần đầu đi giao ma túy cho Vinh để hưởng công. Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ, động cơ, mục đích hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo T có đủ khả năng nhận thức ma tuý là chất gây nghiện, người sử dụng sẽ bị huỷ hoại cả về thể chất lẫn tinh thần, ai vi phạm sẽ bị Nhà nước xử lý nghiêm khắc, nhưng vì muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, bị cáo vẫn bất chấp bán ma tuý để hưởng lợi, điều này gây tác hại rất lớn cho xã hội. Xét hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm làm xâm phạm đến an toàn xã hội và làm phát sinh, phát triển các tệ nạn khác. Bản thân bị cáo đang chấp hành hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo nhưng không thay đổi bản thân lại cố ý phạm tội nên cần phải có xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị T đang chấp hành hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm từ ngày 18/4/2023 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 100/2023/HS-PT ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm

hình sự là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy tại phiên tòa hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có con nhỏ là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

[5] Bị cáo đi giao ma túy để hưởng công là 100.000 đồng, tuy nhiên đây là lần đầu, bị cáo chưa hưởng lợi gì, số ma túy bị cáo mang đi đã bị thu giữ, xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, chưa có công việc có thu nhập ổn định, bị cáo có hai con nhỏ nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền để nộp ngân sách nhà nước.

[6] Đối với đối tượng tên Vinh và Bé (chưa rõ lai lịch). Xét thấy, cần kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ nếu có căn cứ thì xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu ở thể rắn, có khối lượng 1,6849g, loại Methamphetamine, thu giữ của Trần Thi T. Khối lượng còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định là 1,3508g; 01 miếng giấy màu trắng.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 là phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Về thu lợi bất chính: Bị cáo đi giao ma túy cho đối tượng tên Vinh để hưởng công 100.000 đồng, đang trên đường đi giao ma túy cho đối tượng tên Bé thì bị bắt quả tang nên chưa thu lợi bất chính.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; và Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T 03 (ba) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp với hình phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 100/2023/HS-PT, ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 04 (bốn) năm tù, được khấu trừ đi thời gian tạm giam, tạm giữ theo Bản án 100/2023/HSPT ngày

18/4/2023. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

  • 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Điều tra viên và giám định viên, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi phục vụ công tác giám định: Tinh thể có tổng khối lượng 1,3508g,
  • 01 miếng giấy màu trắng.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu iphone 6 (không kiểm tra tình trạng hoạt động).

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Bình Thạnh;
  • - Công an quận Bình Thạnh;
  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp.Hồ Chí Minh
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hồ Minh Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2024/HSST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 253/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Trinh Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger