Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 253/2024/HS-ST

Ngày: 27 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Thế Cần – Nguyên cán bộ Đoàn.
  2. Bà Trần Thị Hồng Ngọc – Chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Hồng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 249/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đan T, sinh ngày 02 tháng 5 năm 2006, tại Kiên Giang; nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện tại: khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm hồ; trình độ học vấn: Lớp 0/12; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ ba, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2024 cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Quan L (Tên giấy khai sinh: Nguyễn Quang L1; tên gọi khác: N1), sinh ngày 08 tháng 5 năm 2006, tại Bến Tre; nơi thường trú: 112/AT ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; nơi ở hiện tại: khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 06/12; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1982 và bà Dương Thị T2, sinh năm 1982; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 28/02/2024 cho đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đan T: Bà Hoàng Minh T3 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: Số B đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quan L: Bà Phan Thị T4 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: Số B đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Mỹ N2, sinh năm 2004, nơi thường trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau; nơi ở hiện tại: tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T5, sinh năm 1989, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; nơi ở hiện tại: khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Hoài K, sinh năm 2007, nơi thường trú: ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nơi ở hiện tại: tổ A, khu C, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
  2. Người đại diện hợp pháp của K: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1988.

  3. Giang Minh T6, sinh năm 2008, nơi thường trú: ấp G, xáng A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
  4. Người đại diện hợp pháp của T6: Giang Văn N3, nơi thường trú: ấp G, xáng A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt.

  5. Hồng Văn K1, sinh năm 1970, nơi thường trú: 6/1, KV P, phường T, quận C, TP .; nơi ở hiện tại: tổ G, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
  6. Trần Thị L2, sinh năm 1990, địa chỉ: ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
  7. Phạm Huy H, sinh năm 1985, địa chỉ: tổ F, khu C, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
  8. Nguyễn Ngọc K2, sinh năm 1985, nơi thường trú: ấp S, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện tại: tổ I, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
  9. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977, nơi thường trú: ấp T, T, T, Kiên Giang; nơi ở hiện tại: khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
  10. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968, nơi thường trú: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện tại: tổ I, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 17/02/2023, Nguyễn Đan T đi bộ đến phòng trọ của Nguyễn Quan L tại tổ G, khu phố T, phường T, thành phố B, tại phòng trọ của L còn có Giang Minh T6 (sinh năm 2008, thường trú tại ấp G, xáng A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang) và Nguyễn Hoài K (sinh năm 2007, ngụ tại ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu). Lúc này, cả bốn người rủ nhau đến nhà bạn gái của T6 để chơi, L điều khiển xe mô tô biển số 71B2-546.72 chở T, K điều khiển xe mô tô của K (không rõ biển số) chở T6 lưu thông từ đường H chạy ra hướng Quốc lộ E, khi đến ngã tư giao nhau với Quốc lộ E thì L chở T chạy qua phía trái đường và đi ngược chiều về hướng sân Golf Long T7 còn K chở T6 đi đúng chiều đường về hướng L. Khi L và T đi đến đoạn đường dốc 47, trước quán cơm không tên (gần cổng chùa P) thì cả hai nhìn thấy chị Nguyễn Thị Mỹ N2 (sinh năm 2004, thường trú tại xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau) đang dừng xe sát lề đường, chị N2 ngồi trên xe mô tô hiệu Sirius biển số 69F1-135.91, tay phải cầm 01 điện thoại di động Iphone 11, thấy vậy T rủ L giật chiếc điện thoại trên tay chị N2 thì L đồng ý, L vòng xe lại áp sát vào xe chị N2 để T dùng tay trái giật lấy chiếc điện thoại trên tay chị N2, chị N2 đuổi theo và truy hô nhưng không kịp, L tăng ga tẩu thoát về hướng sân Golf Long T7 rồi vòng về phòng trọ của L. Sau khi cướp giật được tài sản, T cầm theo chiếc điện thoại trên đi bộ ra tiệm Z thuộc khu phố T, phường T, thành phố B rồi gọi điện cho K để nhờ K chở đi bán điện thoại. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, K đến tiệm Z game chở T mang theo chiếc điện thoại trên đi đến tiệm V tại tổ F, khu C, ấp G, xã A, huyện L do anh Phạm Huy H (sinh năm 1985) và chị Trần Thị L2 (sinh năm 1990) làm chủ bán được 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền trên, T đưa cho K 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng), K đưa cho T6 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), T giữ 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) tiêu xài cá nhân và đưa cho L 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) mua đồ ăn chung.

Sau khi bị cướp giật tài sản, chị N2 đi đến Công ty H3 để làm việc, đến 19 giờ cùng ngày, chị N2 đến Công an phường T trình báo sự việc. Đến ngày 21/02/2023, Công an phường T tuần tra phát hiện L điều khiển xe mô tô biển số 71B2-546.72 có đặc điểm giống người cướp giật tài sản như chị N2 trình báo nên đã đưa L và mời T về làm việc, L và T khai nhận hành vi cướp giật tài sản như trên. Ngày 17/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố vụ án, ngày 22/02/2024 khởi tố bị can đối với L và T để điều tra xử lý.

Vật chứng được thu giữ gồm:

  • - 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu Wave, biển số 71B2-546.72 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo số IMEI A0000101BF88AD, qua xác minh xe và điện thoại là tài sản của anh Trần Văn T5 (dượng rễ của Nguyễn Quan L) để ở phòng trọ, L trông coi phòng trọ cho anh T5 về quê, việc L sử dụng tài sản của anh T5 vào việc phạm tội thì anh T5 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho anh T5.
  • - 01 (Một) phiếu biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng của Thế giới di động đối với điện thoại di động Iphone 11 loại 64Gb, lưu hồ sơ vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 251/KL-HĐĐGTS ngày 18/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B đã kết luận: 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 loại 64Gb trị giá 11.511.000₫ (Mười một triệu, năm trăm mười một nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T1 (là cha của Nguyễn Đan T) đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Mỹ N2 số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng), hiện chị N2 không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 242/CT-VKSBH ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Đan T, Nguyễn Quan L về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

  • - Giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị:
  • + Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 90; Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T, mức hình phạt đối với bị cáo T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L, mức hình phạt đối với bị cáo L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Về xử lý vật chứng:

  • + 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu Wave, biển số 71B2-546.72 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo số IMEI A0000101BF88AD, qua xác minh xe và điện thoại là tài sản của anh Trần Văn T5 (dượng rễ của Nguyễn Quan L) để ở phòng trọ, L trông coi phòng trọ cho anh T5 về quê, việc L sử dụng tài sản của anh T5 vào việc phạm tội thì anh T5 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho anh T5.
  • + 01 (Một) phiếu biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng của Thế giới di động đối với điện thoại di động Iphone 11 loại 64Gb, lưu hồ sơ vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn T1 (là cha của Nguyễn Đan T) đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Mỹ N2 số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng), hiện chị N2 không có yêu cầu gì khác nên không xem xét, giải quyết.

Trình bày của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đan T: Thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện Viện kiểm sát trình bày; đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm o khoản 1 Điều 52; về mức hình phạt đề nghị xem xét bị cáo là người chưa thành niên nên giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Trình bày của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quan L: Thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện Viện kiểm sát đề nghị; về mức hình phạt đề nghị xem xét bị cáo là người chưa thành niên nên giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Bị hại vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 07 giờ ngày 17/02/2023, tại đoạn đường D Quốc lộ E, thuộc tổ G, khu phố L, phường T, thành phố B, Nguyễn Đan TNguyễn Quan L đã có hành vi sử dụng xe mô tô hiệu Wave, biển số 71B2-546.72 để cướp giật 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 loại 64Gb trị giá 11.511.000₫ (Mười một triệu, năm trăm mười một nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Mỹ N2.

Với hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Đan T, Nguyễn Quan L phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

  • - Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
  • - Tính chất đồng phạm và mức độ tham gia phạm tội: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Nguyễn Đan T là người rủ rê, thực hiện tích cực hành vi cướp giật, Nguyễn Quan L là người tích cực thực hiện hành vi cướp giật.
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Đan T là người xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội nên áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • + Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • + Bị cáo Nguyễn Đan T đã bồi thường thiệt hại cho bị hại nên áp dụng thêm tình tiết theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • + Các bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự); bị cáo Nguyễn Quan L có ông ngoại là người có công với cách mạng. Vì vậy, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.
    • - Các bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội nên được áp dụng các quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng, căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu Wave, biển số 71B2-546.72 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo số IMEI A0000101BF88AD, qua xác minh xe và điện thoại là tài sản của anh Trần Văn T5 (dượng rễ của Nguyễn Quan L) để ở phòng trọ, L trông coi phòng trọ cho anh T5 về quê, việc L sử dụng tài sản của anh T5 vào việc phạm tội thì anh T5 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho anh T5.
  • - 01 (Một) phiếu biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng của Thế giới di động đối với điện thoại di động Iphone 11 loại 64Gb, lưu hồ sơ vụ án.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn T1 (là cha của Nguyễn Đan T) đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Mỹ N2 số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng), hiện chị N2 không có yêu cầu gì khác nên không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8] Đối với Nguyễn Hoài KGiang Minh T6 khi T và L thực hiện hành vi cướp giật tài sản thì K và T6 đang đi phía đường đối diện, không biết việc T là L cướp giật tài sản. Khi K được T nhờ chở đi bán điện thoại thì K không biết tài sản do T cướp giật mà có. Khi T cho K và T6 số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) thì K và T6 không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

[9] Đối với anh Phạm Huy H và chị Trần Thị L2 là chủ tiệm V, T khai sau khi cướp giật đã mang điện thoại đến bán cho anh H. Quá trình làm việc anh H và chị L2 khai không mua điện thoại Iphone 11 của T mang đến bán, qua kiểm tra cửa hàng không thu giữ được chiếc điện thoại là tang vật của vụ án nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và người bào chữa cho các bị cáo phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận phần phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đan T, Nguyễn Quan L phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đan T 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2024.

2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quan L 02 (H2) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2024.

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 253/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đan T và đồng phạm phạm tội "Cướp giật tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger