Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 253/2024/HS-ST.

Ngày: 29-10-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Xuyến

Ông Hoài Đức Huệ.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Trịnh Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 265/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 tại tỉnh Quảng Trị. Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 12/12, Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1955 và bà Cao Thị H1, sinh năm 1963; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và có 01 con chung sinh năm 2015;

- Tiền án: không.

- Tiền sự: Vào ngày 02/8/2023, bị UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/11/2023 đã nộp phạt xong.

- Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Bị hại: Công ty TNHH W (vắng mặt).

Địa chỉ: khu Công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/8/2023, Nguyễn Văn H bị Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị ra Quyết định số 140/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng, đến ngày 17/11/2023, H đã chấp hành xong quyết định. Khoảng 9 giờ ngày 18/04/2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 81D4-040.39 đi từ phòng trọ tại ấp B, xã P, huyện N đến thị trấn H, huyện N để gặp bạn. Khi H đi đến đường C thuộc Khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì thấy có hàng rào bằng sắt kích thước 1m6 x 2m4 của Công ty TNHH W bị gãy rơi xuống bãi cỏ gần hàng rào. Hợi thấy không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. H dựng xe ở lề đường rồi đi đến kéo hàng rào sắt đưa lên xe mô tô thì bị bảo vệ hạ tầng Khu công nghiệp N phát hiện và trình báo Đồn Công an Khu công nghiệp N1.

Tại Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 28/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: khung hàng rào bằng sắt, hình chữ nhật, kích thước 1m6 x 2m4 (dạng phế liệu) trọng lượng 55kg có giá trị là 660.000 đồng.

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

- 01 khung hàng rào bằng sắt, hình chữ nhật, kích thước 1m6 x 2m4, trọng lượng 55kg đã trả lại cho Công ty TNHH W.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 248/CT-VKSNT ngày 20/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 đến 14 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo Nguyễn Văn H không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về trách nhiệm hình sự: Vào ngày 18/4/2024, tại Khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn H (là người có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 khung hàng rào bằng sắt kích thước 1m6 x 2m4 trị giá 660.000 đồng của Công ty TNHH W.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội nên có đủ căn cứ và cơ sở để xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng số 248/CT-VKSNT ngày 20/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

[3]. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Tính chất, mức độ của hành vi: Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị xử phạt hành chính và được sử dụng là tình tiết định tội nên được xem là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, hiện nay là lao động chính một mình nuôi con nhỏ sinh năm 2015 (theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 19/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/3/2022 của Tòa án nhân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai). Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 mà bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không có vi phạm gì, thể hiện việc tự cải tạo bản thân tốt, hiện nay bị cáo là lao động chính phải nuôi con nhỏ sinh năm 2015. Do đó, không cần thiết xét xử hình phạt tù giam mà áp dụng Điều 65 BLHS xử phạt cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội và đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc, nuôi dưỡng con nhằm thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước.

[4]. Về xử lý vật chứng:

- 01 khung hàng rào bằng sắt, hình chữ nhật, kích thước 1m6 x 2m4, trọng lượng 55kg đã trả lại cho Công ty TNHH W.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐ TP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù. Nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho UBND xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc được niêm yết, tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Thi hành án;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Đình Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 253/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 18/4/2024, tại Khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn H (là người có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 khung hàng rào bằng sắt kích thước 1m6 x 2m4 trị giá 660.000 đồng của Công ty TNHH W.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger