TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 253/2024/HS-ST Ngày 09-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Luyến
Bà Cao Thị Hạ
Ông Phạm Mạnh Hùng
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 237/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số: 428/TB-TA ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Quốc Đ
Vũ Quốc Đ, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1993, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: số A L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Chí C và bà Đinh Thị Minh H; có vợ Lê Thị D và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ ngày 24/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 30/7/2024, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Quốc Đ: Bà Hoàng Thị H1 - Luật sư Văn phòng L2 và Cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thu A; sinh năm 1994, nơi cư trú: Tổ F, khu A H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mối quan hệ quen biết từ trước, Vũ Quốc Đ biết gia đình chị Lê Thu A, sinh 1994, địa chỉ: tổ F khu A H, H, Quảng Ninh có nhu cầu mua xe ô tô làm phương tiện đi lại, nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt để lấy tiền ăn tiêu. Đ đưa ra các thông tin giả về việc có khả năng mua xe ô tô giá rẻ hơn so với giá Công ty niêm yết và nói với chị Thu A đang có chương trình bán xe ô tô Vinfast Lux A 2.0 Turbo, màu trắng, phiên bản tiêu chuẩn với giá 650.000.000 đồng (giá Công ty niêm yết 881.695.000 đồng) cho người có hộ khẩu tại Hải Phòng. Chị Thu A tưởng thật, đồng ý về Hải Phòng giao dịch. Đ liên lạc với Lục Đức D1 là nhân viên tư vấn bán xe tại Showroom V, quận H, thành phố Hải Phòng hỏi mua xe ô tô Vinfast Lux A 2.0 Turbo, màu trắng, phiên bản tiêu chuẩn, D1 báo giá cho Đ theo giá niêm yết của Công ty. Đ nói dối D1 là mua xe cho bác của Đ, nhờ D1 báo giá xe ô tô là 650.000.000 đồng, thấp hơn so với giá thị trường, nếu báo giá cao thì bác Đ tiếc tiền không mua, Đ sẽ bù vào số tiền chênh lệch cho D1. Đồng thời Đ bảo D1 làm hợp đồng đứng tên Đ và gửi hợp đồng qua Zalo cho Đ, hẹn đưa người nhà Đ đến xem xe sau. D1 tưởng thật, làm theo nội dung Đ yêu cầu. Đ sửa lại giá trên hợp đồng, in ra tự ký vào mục đại diện Công ty “Giám đốc – Nguyễn Anh P”.
Chiều ngày 26/10/2021, Đ cùng chị Thu A và bố đẻ chị Thu A đến gặp D1 tại showroom Vinfast Thượng L xem xe, D1 báo giá xe là 650.000.000 đồng. Đ nói với chị Thu A đã ứng trước 100.000.000 đồng để đặt cọc xe cho chị Thu A. Ngày 30/10/2021, chị Thu A trả tiền đặt cọc xe cho Đ (có viết giấy biên nhận), Đ đưa cho chị Thu A 01 bản hợp đồng mua bán xe do Đ kí giả ghi ngày 27/10/2021, hẹn khi nào nhận đủ tiền sẽ bàn giao xe.
Ngày 10/11/2021, Đ hẹn gia đình chị Thu A đến Hải Phòng để thanh toán nốt số tiền còn lại và nhận xe ô tô. Chị Thu A trả cho Đ 550.000.000 đồng (chuyển khoản vào tài khoản của vợ Đ là Lê Thị D tại ngân hàng T, Đ nói dối D là tiền vay của bạn để làm ăn), hẹn chị Thu A 16h cùng ngày giao xe. Sau đó, Đ cùng D đi rút tiền, Đ bảo D về quê, còn Đ cầm tiền bỏ trốn khỏi địa phương, và đã chi tiêu hết số tiền trên.
Cùng ngày, chị Lê Thu A đến Cơ quan Công an quận H trình báo và trình bày phù hợp với nội nêu trên .
Tại các bản Kết luận giám định số 27 ngày 11/3/2022, số 149 ngày 27/9/2022 của Phòng K, Công an thành phố H xác định mẫu chữ viết “Vũ Quốc Đ” trên giấy nhận tiền ngày 30/10/2021, trên hợp đồng mua bán xe ô tô ghi ngày 27/10/2021, so sánh với mẫu chữ của Vũ Quốc Đ là do cùng một người viết ra. Mẫu chữ kí tại vị trí Giám đốc trên hợp đồng mua bán xe ô tô ghi ngày 27/10/2021, Đ đưa cho chị Thu A với mẫu chữ kí của ông Nguyễn Anh P, không phải do cùng một người kí ra.
Quá trình điều tra, Vũ Quốc Đ bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can và ngày 18/10/2022 ra Quyết định truy nã. Ngày 24/7/2024, Vũ Quốc Đ đến Công an quận L đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Hiện Đ không có khả năng trả lại số tiền chiếm đoạt của chị Thu A.
Lời khai của bị can Vũ Quốc Đ phù hợp lời khai người bị hại, lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng Lục Đức D1, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thu A yêu cầu Đ phải bồi thường số tiền đã bị chiếm đoạt 650.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 244/CT-VKS-P3 ngày 12/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Vũ Quốc Đ về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo tự mình thực hiện không bàn bạc với ai, số tiền bị cáo chiếm đoạt bị cáo chi tiêu cá nhân không chia cho ai. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với xã hội.
Bị hại khai có nội dung như bị cáo khai nhận tại phiên toà, về trách nhiệm dân sự bị hại chưa nhận bồi thường đồng nào của gia đình bị cáo, bị hại yêu cầu bị cáo Vũ Quốc Đ phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt, về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Quốc Đ từ 12 đến 13 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về dân sự:
Buộc bị cáo Vũ Quốc Đ phải bồi thường cho chị Lê Thu A 650.000.000 đồng.Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và Điều luật truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là bị cáo ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có ông nội tham gia kháng chiến và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp dưới mức Kiểm sát viên đề xuất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Do cần tiền tiêu sài nên vào các ngày 30/10/2021, 10/11/2021 Vũ Quốc Đ đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách đưa ra thông tin giả về việc bản thân có khả năng mua được xe ô tô Vinfast Lux A 2.0 Turbo, màu trắng, phiên bản tiêu chuẩn với giá rẻ hơn so với giá Công ty niêm yết, để chiếm đoạt 650.000.000 đồng tiền mua xe ô tô của chị Lê Thu A. Như vậy hành vi của bị cáo Vũ Quốc Đ đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung: Số tiền bị cáo Vũ Quốc Đ chiếm đoạt của bị hại là 650.000.000 đồng nên hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. ‘Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên’.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh địa phương do vậy, cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã ra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có ông nội tham gia kháng chiến và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến và Huân chương chiến công Giải phóng, bản thân bị cáo trong quá trình học tập tại trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân được tặng Giấy khen nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt: Căn cứ tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại không lớn nên xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[8] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có căn cứ nên chấp nhận.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Thu A yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 650.000.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt, Hội đồng xét xử xét yêu cầu của chị Thu A là chính đáng và hợp pháp nên chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường đầy đủ.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng theo quy định của pháp luật.
[12] Các vấn đề khác: Đối với Lục Đức D1 (nhân viên bán xe của showroom ô tô), Lê Thị D (vợ Đ, nhận tiền chị Thu A chuyển khoản đến) và Vũ Bá L1 (lái xe taxi, chở Đ đi rút tiền và nhận tiền Diện chuyển khoản, rút hộ Đ). Quá trình điều tra xác định những người này không biết và không được Vũ Quốc Đ bàn bạc, thực hiện hành vi gian dối, chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thu A, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không xử lý.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vũ Quốc Đ phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xử phạt Vũ Quốc Đ 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2024.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Vũ Quốc Đ bồi thường cho chị Lê Thu A số tiền 650.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu đồng).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Quốc Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường trên, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 253/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 253/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 12 năm tù
