TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 253/2024/DS-PT
Ngày: 05-11-2024
V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Tâm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn và ông Trần Minh Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Phan Yến Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Duyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 247/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 252/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 289/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh L, sinh năm 1959; nơi cư trú: Lô G căn A, Lý Thị H, khu phố N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Phan Thị D, sinh năm 1976; nơi cư trú: số C, tổ E, khu phố B, phường C, thị xã T, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị Tuyết T, sinh năm 1961; nơi cư trú: Lô G căn A, Lý Thị H, khu phố N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Phan Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:
* Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 12 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Nguyễn Minh L trình bày: Do quen biết từ năm 2016 đến 2018, ông có cho bà Phan Thị D vay nhiều lần với tổng số tiền 470.000.000 đồng và 138 chỉ vàng 24 kara (trong đó 80 chỉ vàng miếng SJC và 58 chỉ vàng nhẫn 9999), việc vay mượn không thoả thuận lãi suất và thời hạn trả nợ. Đến ngày 09/4/2020, bà D có làm biên nhận về tổng số tiền vàng còn thiếu do bà D tự ghi và ký tên; từ năm 2020 - 2021, bà D có trả được 151.000.000 đồng, còn nợ lại 319.000.000 đồng và 138 chỉ vàng. Tiếp theo ngày 16/6/2022, giữa ông L và bà D lập bản thoả thuận về thời gian trả nợ có sự chứng kiến của ông Mai Xuân T1; ngày 07/10/2022 các bên lập biên bản thoả thuận, theo đó bà D cũng thoả thuận về thời gian trả nợ có sự chứng kiến của Luật sư Mai Xuân T1 nhưng đến nay bà D vẫn không thực hiện.
Tại phiên toà, ông L yêu cầu bà D trả ngay số tiền 319.000.000 đồng và 138 chỉ vàng (trong đó 80 chỉ vàng miếng SJC và 58 chỉ vàng nhẫn 9999), đối với tiền vay thì tính lãi suất 10%/năm từ ngày 08/4/2023 cho đến khi xét xử.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm bị đơn bà Phan Thị D vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị Tuyết T: thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông Nguyễn Minh L, bà T không có yêu cầu khác.
* Tại Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang đã tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh L đối với bị đơn bà Phan Thị D.
Buộc bà Phan Thị D phải trả cho ông Nguyễn Minh L số tiền vay vốn là 319.000.000 đồng (ba trăm, mười chín triệu đồng), tiền lãi chậm trả là 38.804.000 đồng (ba mươi tám triệu, tám trăm lẻ bốn ngàn đồng), tổng cộng là 357.804.000 đồng (ba trăm năm mươi bảy triệu, tám trăm lẻ bốn ngàn đồng) và 138 (một trăm ba mươi tám) chỉ vàng 24 kara, trong đó 80 (tám mươi) chỉ vàng miếng SJC và 58 (năm mươi tám) chỉ vàng nhẫn 9999.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/8/2024 bị đơn bà Phan Thị D nhận được bản án dân sự sơ thẩm nên ngày 08/8/2024 bị đơn bà Phan Thị D kháng cáo không đồng ý quyết định của bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay 319.000.000 đồng và 138 chỉ vàng (trong đó 80 chỉ vàng miếng SJC và 58 chỉ vàng nhẫn 9999), tự nguyện không yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền vay 319.000.000 đồng. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn thừa nhận khoảng năm 2008 – 2009 có quen biết ông L nên ông L có đưa tiền và vàng cho bà nhiều lần để bổ sung vốn kinh doanh quán ăn, bà có đóng lãi cho ông L đầy đủ nhưng bà không ghi lại. Khi đó bà và ông L có quan hệ tình cảm thì vợ của ông L là bà T phát hiện nên để không làm lớn chuyện thì bà có làm giấy xác nhận nợ tiền, vàng và biên bản thỏa thuận trả nợ ông L. Đến năm 2022 bà có làm biên bản thỏa thuận còn nợ ông L số tiền 319.000.000 đồng và 138 chỉ vàng. Bà không cung cấp được chứng cứ gì mới tại giai đoạn phúc thẩm.
- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị D. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang về lãi suất. Công nhận sự tự nguyện của ông L không yêu cầu bà D trả lãi đối với số tiền vốn vay 319.000.000 đồng. Buộc bà D có nghĩa vụ trả cho ông L số tiền 319.000.000 đồng, 80 chỉ vàng miếng SJC và 58 chỉ vàng nhẫn 9999.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Phan Thị D kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn ông Nguyễn Minh L cho bị đơn bà Phan Thị D vay nhiều lần với tổng số tiền 470.000.000 đồng và 138 chỉ vàng (trong đó 80 chỉ vàng miếng SJC và 58 chỉ vàng nhẫn 9999). Đến ngày 09/4/2020, bà D lập biên nhận về tổng số tiền vàng còn thiếu đối với ông L do bà tự ghi và ký tên, tiếp theo ngày 16/6/2022 lập bản thoả thuận về thời gian trả nợ có sự chứng kiến của ông Mai Xuân T1; ngày 07/10/2022 các bên lập biên bản thoả thuận, theo đó bà D cũng thoả thuận về thời gian trả nợ có sự chứng kiến của Luật sư Mai Xuân T1. Trong khoảng thời gian từ năm 2020 – 2021, bà D có trả được 151.000.000 đồng, giữa các bên xác lập hợp đồng vay từ năm 2016 đến năm 2018, nhưng đến năm 2020 và năm 2022 mới lập biên nhận, do đó căn cứ vào biên bản thoả thuận cuối cùng ngày 07/10/2022 có ghi: “1.....tính đến thời điểm hiện tại bên A còn nợ bên B: Vàng 138 chỉ, tiền 319.000.000đ; 2. Phương thức thanh toán: trong vòng 06 tháng kể từ ngày thoả thuận bên B có trách nhiệm trả ít nhất 50% số vàng + tiền trên...”. Như vậy, tính đến ngày 07/10/2022 các bên xác lập lại việc vay mượn, cũng như về thời hạn trả nợ nên có cơ sở xác định việc thỏa thuận hợp đồng vay này là có kỳ hạn và không có lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 470 của Bộ luật Dân sự. Việc giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện; nội dung không trái pháp luật, đạo đức xã hội; các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự 2015. Bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông L yêu cầu bà D trả nợ và yêu cầu tính lãi là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Phan Thị D có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Minh L số tiền vay vốn là 319.000.000 đồng (ba trăm, mười chín triệu đồng), tiền lãi chậm trả là 38.804.000 đồng (ba mươi tám triệu, tám trăm lẻ bốn ngàn đồng), tổng cộng là 357.804.000 đồng (ba trăm năm mươi bảy triệu, tám trăm lẻ bốn ngàn đồng) và 138 (một trăm ba mươi tám) chỉ vàng 24 kara, trong đó 80 (tám mươi) chỉ vàng miếng SJC và 58 (năm mươi tám) chỉ vàng nhẫn 9999 là hoàn toàn có căn cứ. Bà D kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ và hợp pháp. Do đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà D.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ông L tự nguyện không yêu cầu tính lãi đối với số tiền vốn vay 319.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của ông L.
Do đó, sửa bản án dân sự sơ thẩm về lãi suất như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bị buộc trả nợ nên bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định đối với số tiền vay vốn là 319.000.000 đồng và 138 (một trăm ba mươi tám) chỉ vàng 24 kara, trong đó 80 (tám mươi) chỉ vàng miếng SJC và 58 (năm mươi tám) chỉ vàng nhẫn 9999 (giá vàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm, SJC = 7.500.000 đồng/chỉ; vàng 9999 = 6.500.000 đồng/chỉ).
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên bà Phan Thị D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị D.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang về lãi suất.
Căn cứ:
- Điều 280, 357, 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 147, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh L đối với bị đơn bà Phan Thị D.
Công nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Minh L không yêu cầu bà Phan Thị D trả lãi suất đối với số tiền vay 319.000.000 đồng.
Buộc bà Phan Thị D phải trả cho ông Nguyễn Minh L số tiền vay vốn là 319.000.000 đồng (Ba trăm mười chín triệu đồng) và 138 (Một trăm ba mươi tám) chỉ vàng 24 kara, trong đó 80 (Tám mươi) chỉ vàng miếng SJC và 58 (Năm mươi tám) chỉ vàng nhẫn 9999.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Phan Thị D phải chịu 50.880.000 đồng (Năm mươi triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nên được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011079 ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Thị Minh Tâm |
Bản án số 253/2024/DS-PT ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 253/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị D. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang về lãi suất.
