Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 253/2023/HS-ST

Ngày 03-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trí Dũng, ông Lại Hữu Tâm

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 244/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 262/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đăng T; Giới tính: N; Sinh năm: 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: B19 tổ C, khu phố C, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Nhà không số, tổ B, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Đăng T1 và bà Nguyễn Thị T2; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự:

Ngày 14/7/2021, bị toà án nhân dân quận Gò Gấp, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 15 tháng. Ngày 05/8/2022 chấp hành xong quyết định.

Ngày 07/4/2023, bị toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng. T chưa thi hành Quyết định.

Nhân thân:

Ngày 20/12/2018, bị toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 15 tháng. Ngày 27/12/2019 chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2023 đến nay (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Trần Văn T3, sinh năm 1947; Nơi cư trú: Nhà không số, tổ B, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Bà Trần Ngọc N1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Nhà không số, tổ B, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ ngày 23/4/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện B phối hợp với Công an xã V, huyện B tiến hành kiểm tra cư trú nhà không số, tổ B, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm kiểm tra, trong nhà có Nguyễn Đăng TTrần Ngọc N1. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của Nguyễn Đăng T đang mặc có 01 hộp nhựa màu xanh (có ghi chữ Big Babol), bên trong hộp nhựa có 17 gói nylon chứa tinh thể không màu mà Nguyễn Đăng T khai nhận là ma túy đá của T cất giữ để bán lại cho người khác. Do đó, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật và lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để điều tra xử lý. Qua kiểm tra, T và N1 dương tính với ma tuý loại Methamphetamine.

Tại Bản kết luận giám định số 4172/KL-KTHS ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

“Tinh thể không màu trong 17 gói nylon thu giữ của Nguyễn Đăng T là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,9155gam, loại Methamphetamine”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Đăng T khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 22/4/2023, Nguyễn Đăng T sử dụng điện thoại số 0933.174.xxx gọi cho người tên P (T không rõ nhân thân lai lịch, qua số điện thoại 0768.015.xxx) mua 2.000.000 đồng ma túy đá để bán lại cho các con nghiện kiếm lời. P đồng ý bán và hẹn Nguyễn Đăng T ra khu vực ngã tư B để lấy ma túy. Sau đó, Nguyễn Đăng T điều khiển xe máy đến điểm hẹn với P, khi T đến trước địa chỉ 1351 Tỉnh Lộ 10, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp được P và P chỉ cho T lấy ma túy ở góc hẻm. T đến nơi P chỉ lấy 01 gói ma túy đá lớn rồi cất vào túi quần và điều khiển xe máy về nhà không số, tổ B, ấp A, xã V, huyện B. Tại đây, Nguyễn Đăng T phân gói ma tuý đã mua ra thành 21 gói nhỏ rồi cất vào trong hộp nhựa màu xanh có ghi chữ Big Babol. Sau đó, Nguyễn Đăng T đã bán 04 gói ma túy cho 04 người nghiện, mỗi gói bán với giá 200.000 đồng, còn lại 17 gói Thiện cất trong hộp nhựa để bán thì bị bắt quả tang như đã nêu trên. Nguyễn Đăng T không rõ nhân thân lai lịch của những người mà T bán ma túy, những người này liên lạc với T qua điện thoại để đặt mua và hẹn địa điểm giao dịch.

Nguyễn Đăng T khai đã mua ma túy của P được 03 lần: lần đầu là vào khoảng đầu tháng 3/2023 mua 1.100.000 đồng ma túy đá; lần thứ hai vào cuối tháng 3/2023 mua 3.600.000 đồng ma túy đá và đã bán hết số ma tuý mua của P cho các con nghiện. Lần thứ 3 mua vào ngày 22/4/2023 như T đã khai trên. Nguyễn Đăng T đã hoạt động mua bán trái phép chất ma túy một mình được khoảng 02 tháng trước khi bị bắt. Phương thức, thủ đoạn hoạt động là T điện thoại cho P để mua ma túy, sau đó phân ra thành nhiều gói nhỏ để bán cho các con nghiện với giá 200.000 đồng/gói và lấy ra một ít ma túy để T và Trần Ngọc N1 (Năm là bạn gái của T) sử dụng chung. T và N1 đã sử dụng chung ma túy nhiều lần, lần gần nhất là ngày 18/4/2023. Đối với ma túy T mua của P ngày 22/4/2023 T, N1 chưa sử dụng chung. Căn nhà không số, tổ B, ấp A, xã V, huyện B là của ông Trần Văn T3 (bố của N1) để cho N1 và T ở chung, ông T3 không biết T và N1 sử dụng ma tuý tại căn nhà trên.

Đối với Trần Ngọc N1 khai nhận phù hợp với lời khai của Nguyễn Đăng T. Trần Ngọc N1 hoàn toàn không biết việc T mua bán trái phép chất ma túy và không biết T lấy ma túy từ đâu.

Tại bản cáo trạng số 235/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với việc Nguyễn Đăng T khai nhận mua bán ma tuý nhiều lần nhưng chỉ có lời khai của bị cáo nên chưa đủ căn cứ xử lý T với tình tiết phạm tội 02 lần trở lên hoặc đối với 02 người trở lên.

T và N1 khai sống chung như vợ chồng đều là đối tượng nghiện ma tuý và đã sử dụng ma tuý chung nhiều lần, ma tuý do T cho N1 sử dụng. Tại thời điểm bắt quả tang ngày 23/4/2023 T, N1 không có hành vi sử dụng ma tuý và chỉ có lời khai của T và Năm nên chưa đủ xử lý T về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Do Trần Ngọc N1 đã có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành bàn giao Trần Ngọc N1 cho Công an xã V, huyện B để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Đối với đối tượng tên “P” đã bán ma tuý cho T và các đối tượng mua ma tuý của T, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tiếp tục truy xét. Khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau.

Đối với ông Trần Văn T3 cho T và Năm ở chung tại địa chỉ nhà không số, tổ B, ấp A, xã V, huyện B nhưng không biết T và N1 sử dụng ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không xử lý về hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng T từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù;
  • Vật chứng thu giữ:
  • Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: các gói ma tuý thu giữ của Nguyễn Đăng T; 01 hộp nhựa màu xanh có ghi chữ Big Babol; 01 cây kéo; 01 quẹt gas; 01 đoạn ống nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone có số IMEI 1: 357262096706234, IMEI 2: 357262096797795 cùng 01 sim có số thuê bao 0933174558; Số tiền 770.000 đồng.
  • Lưu giữ hồ sơ vụ án 01 đĩa ghi âm, ghi hình hỏi cung bị can Nguyễn Đăng T.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đăng T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đăng T khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận ngày 23/4/2023, tại nhà không số, tổ B, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang bị cáo Nguyễn Đăng T đang cất giấu 17 gói nylon chứa tinh thể không màu mà Nguyễn Đăng T khai nhận là ma túy đá nhằm để bán lại cho người khác. Căn cứ kết luận giám định của Phòng K Công an Thành phố H thì tinh thể không màu trong 17 gói nylon thu giữ của Nguyễn Đăng T là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,9155gam, loại Methamphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Đăng T đã cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Ngoài ra, tại cơ quan điều tra bị cáo còn khai trước đó bị cáo đã nhiều lần bán ma túy cho người khác nhưng không xác định được thời gian, địa điểm, khối lượng, chủng loại ma túy và không xác định được người mua ma túy nên chưa đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội mua bán từ hai lần trở lên.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Tại thời điểm phạm tội bị cáo là người trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ pháp luật cấm mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để có tiền tiêu xài và ma túy để sử dụng mà bị cáo cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác.

[4] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Đăng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy, cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma tuý nhằm hưởng lợi bất chính nhưng không xác định số tiền bị cáo đã hưởng lợi bất chính để buộc bị cáo sung nộp vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo số tiền nhất định để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[5] Xét thấy, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai cáo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án thu giữ gồm:

[6.1] Đối với các gói ma tuý thu giữ của Nguyễn Đăng T (đã được niêm phong trong 01 bìa thư, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng T và hình dấu Công an xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh); 01 hộp nhựa màu xanh có ghi chữ Big Babol; 01 cây kéo; 01 quẹt gas; 01 đoạn ống nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Xét thấy, các vật chứng này là vật cấm tàng trữ, mua bán, lưu hành và không có giá trị sử dụng hoặc có liên quan đến tội phạm nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6.2] Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone (số IMEI 1: 357262096706234, IMEI 2: 357262096797795 cùng 01 sim có số thuê bao 0933174558) và số tiền 770.000 đồng thu giữ của Nguyễn Đăng T. Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đang T4 đều khai nhận bị cáo đã sử dụng tài sản này để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, làm phương tiện phạm tội và số tiền là tiền dùng để mua bán trái phép chất ma tuý nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước các vật chứng này.

[6.3] Đối với 01 đĩa ghi âm, ghi hình hỏi cung bị can Nguyễn Đăng T. Đây là chứng cứ chứng minh tội phạm, đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu giữ hồ sơ.

[7] Về án phí: bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng T 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2023.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đăng T 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Về vật chứng:

+ Tịch thu và tiêu hủy: các gói ma tuý thu giữ của Nguyễn Đăng T (sau giám định khối lượng ma tuý còn lại là 3,7067gam, loại Methamphetamine và đã được niêm phong trong 01 bìa thư, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng T và hình dấu Công an xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh); 01 hộp nhựa màu xanh có ghi chữ Big Babol; 01 cây kéo; 01 quẹt gas; 01 đoạn ống nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone (số IMEI 1: 357262096706234, IMEI 2: 357262096797795 cùng 01 sim có số thuê bao 0933174558) và số tiền 770.000 đồng (bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).

(Tất cả vật chứng trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2023 giữa công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Riêng số tiền đang lưu giữ tại tài khoản số 6440203000010 của Kho bạc nhà nước B tại Aribank - Nam thành phố H. Theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 18/8/2023, người nộp tiền Nguyễn Anh T5).

- Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh.
  • - Công an H. Bình Chánh;
  • - VKSND H. Bình Chánh;
  • - THA dân sự H.Bình Chánh;
  • - PC 53- Công an TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 253/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đăng Thiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger